Bài viết

Câu chuyện lịch sử 1

CHỦ ĐỀ : “ NHỮNG CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA: XÓM QUẠ KÊU, QUẢNG NGÃI – NHỮNG NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG TỰ DO”

Quảng Ngãi03/11/2025Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Xóm Quạ Kêu” là một xóm nhỏ thuộc vùng Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Tên gọi nghe lạ nhưng lại chứa đựng những hình ảnh rất sống động trong ký ức người dân nơi đây. Theo lời kể của các cụ lớn tuổi, xóm vốn là nơi có hàng vạn con quạ vào chiều chiều chúng tụ về đậu trên những lùm cây rậm rạp, tập kêu thành cả tiếng chung, kéo dài tới tối. Âm thanh ấy ban đầu lạ, sau quen; người dân rồi phải sống với nó tiếng kêu quạ trở thành một phần của đời sống thường nhật. Cách đặt tên “Xóm Quạ Kêu” thể hiện một đặc điểm tự nhiên kết hợp với kinh nghiệm sống của người dân, một cách rất dân gian để đánh dấu nơi mình sinh sống. Nhưng qua thông tin của một người em trong xóm, tôi biết xóm vẫn yên bình như vậy, dù đàn quạ không còn cư trú, và dĩ nhiên, từ lâu lắm rồi dân xóm không còn nghe tiếng quạ kêu nữa. Tôi hỏi: có bao giờ những người già trong xóm nhớ về tiếng cả đàn quạ kêu suốt buổi chiều sang đêm không? Chú em nói, anh trai em năm nay hơn 70 tuổi kể nhiều lúc cũng thấy nhớ, cứ nghĩ mình nhớ cắc cớ, nhưng hỏi những người lớn tuổi hơn mình và đồng tuổi với mình trong xóm, thì ai cũng nói từng nhiều lần “nhớ cắc cớ” như vậy. Đủ biết, khi cái gì đã đi vào bộ nhớ, đi vào ký ức con người với đầy đủ những hình ảnh, âm thanh, thậm chí những câu chuyện, thì chỉ cần một khởi phát nào đó, ký ức sẽ trỗi dậy. Và mình lại nhớ, nhiều khi rất tình cờ, nhiều khi như vu vơ. Nhưng Xóm Quạ Kêu không chỉ có tiếng quạ; nó là nơi một phần của lịch sử chiến tranh – vùng tự do trong thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Qua câu chuyện của Xóm, ta thấy được mảng nhỏ nhưng rất thực về cuộc sống con người khi đất nước còn lửa đạn.

Tôi vừa đọc một bài thuộc dạng truyền thông khoa học, bài báo có nhan đề Quạ và một số loài vật khác có trí tuệ như người?, chợt xúc cảm ùa đến, lại nhớ ngay tới “Xóm Quạ Kêu” ở Đức Phổ mà có lần tôi đã tới. Có một đoạn trong bài viết ấy như thế này: “Quạ và linh trưởng giống nhau ở một số khả năng cơ bản về giải quyết vấn đề và tính linh hoạt, tức là có thể thích nghi và thay đổi trước những thông tin và kinh nghiệm mới. Đây là ví dụ về tiến hóa hội tụ, khi mà các lịch sử tiến hóa hoàn toàn khác nhau đã dẫn đến đặc tính hay hành vi giống nhau". Đó là câu chuyện từ hồi chiến tranh chống Mỹ, kể cũng đã năm chục năm có lẻ rồi. Hơn nửa thế kỷ, là mấy thế hệ con người đã sống ở xóm quạ kêu ấy, mà những thế hệ sau thì gần như ít biết, hoặc có biết mà không còn thấy… quạ nữa, nên câu chuyện gần như chuyện cổ tích.

Con quạ, từ trong truyền thuyết, từ trong cổ tích đã gần gũi với con người. “Trên mồ con quạ đứng im hơi” là một câu thơ của thi sĩ Bích Khê người Quảng Ngãi đã viết để tiên đoán về cái chết của mình, không uất ức và không hề run sợ. Con quạ ấy đậu trên nấm mộ thi sĩ như một người bạn, lại như một chứng nhân. Còn con quạ bất tử trong bài thơ dài Con quạ của thi hào Mỹ Edgar Poe thì đó là một nhà tiên tri đầy uy quyền, người bạn tình cờ nhưng là người bạn số phận của thi sĩ. Chúng ta sống trên đời là sống với thiên nhiên, sống với cả một thế giới động vật, từ hoang dã tới vật nuôi trong nhà.

Con quạ là một loài chim hoang dã. Tôi chưa thấy ai nuôi quạ trong nhà, hoặc có mà tôi không biết. Nhưng từ xưa, con quạ đã luôn là người bạn gần gũi với con người, dù ở đâu đó người ta có thành kiến với loài chim đặc biệt nhạy cảm này. Do có một số lần tới châu Âu, tôi đã gặp ở nhiều nơi trên đất châu Âu những đàn quạ bay lượn hay những con quạ cô đơn đậu trên cành cây khô khẳng mùa tuyết rơi. Hình ảnh con quạ ở châu Âu là hết sức thân thuộc với con người và người dân ở đó coi con quạ là bạn thân thiết. Có lẽ vì lối sống có phần nghiêng về xúc cảm của nó. Sở dĩ ở nhiều nước Âu - Mỹ, quạ được coi là con vật tiên tri, vì quạ đặc biệt nhạy cảm.

Tôi còn nhớ, có mấy tháng đầu năm 1988 tôi được dự một lớp học về văn học tại Học viện Gorki thuộc Liên Xô (cũ). Có lần tôi uống bia tại căn phòng trong “ốp” với một nhà văn trẻ cùng quê với văn hào Chingyz Aitmatov, tôi có nhắc với anh này bài hát về con quạ, hình như là dân ca của dân tộc anh. Nhà văn trẻ vui mừng nói: “Đúng đó là bài dân ca rất quen thuộc của dân tộc tôi. Làm sao anh biết?”. Tôi nói là đọc được trong một tiểu thuyết của Chingyz Aitmatov. Nhà văn trẻ nói: “Chúng tôi là một dân tộc nhỏ, nhưng chúng tôi rất yêu thiên nhiên, yêu những con vật hoang dã. Con quạ luôn được dân tộc tôi yêu mến, vì nó trung thực và đĩnh đạc, đúng phong thái một người đàn ông, một chiến binh trọng danh dự”.

Để hiểu rõ câu chuyện của “ Xóm Quạ Kêu” cần đặt nó trong bối cảnh: Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi là một vùng mà từ thời chống Pháp trở thành vùng tự do của Liên khu 5. “Vùng tự do” nghĩa là vùng mà cách mạng giành được quyền kiểm soát; quân địch chưa kiểm soát hoàn toàn hoặc thường xuyên bị áp lực từ lực lượng cách mạng. Trong thời kháng chiến chống Pháp, đặc biệt từ sau chiến dịch Atlante cuối năm 1953, quân Pháp đã cố gắng mở lại thế tấn công, phá vùng tự do, dùng không quân lẫn bộ binh để ném bom, tấn công các xưởng, đường giao thông, nơi trú ẩn của nhân dân, cơ sở cách mạngSau đó, trong kháng chiến chống Mỹ, vùng trung Trung bộ (trong đó có Quảng Ngãi) trở thành chiến trường, nơi có sự tranh giành mạnh mẽ giữa lực lượng cách mạng và quân đội Mỹ + quân ngụy. Phổ Thuận lại một lần nữa trở thành vùng có chiến sự “xôi đậu” – tức là bị chia cắt, bị tấn công – bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chiến tranh.

Từ bối cảnh trên, người dân Xóm Quạ Kêu đã có những trải nghiệm rất riêng, vừa đắng cay vừa kiêu hãnh. Dưới đây là các khía cạnh/hồi ức tiêu biểu mà tư liệu ghi lạiĐóng góp vào sản xuất hậu phương — Xưởng quân giới & xưởng dệt trong thời chống Pháp, Phổ Thuận có một xưởng quân giới của Liên khu 5 đóng tại vùng này. Cùng với đó, có xưởng dệt tên Việt Thắng, chuyên dệt vải (“vải xi-ta”) để phục vụ bộ đội và nhân dân, trong khi quần áo, vải vóc rất thiếu thốn. Người dân Xóm Quạ Kêu, vốn chăm chỉ và có kinh nghiệm trồng bông, kéo sợi, may gia công, đã chuyển sang nghề trồng bông, kéo sợi, dệt cung ứng nguyên liệu cho xưởng dệt Việt Thắng. Điều này không chỉ là mưu sinh mà là một phầncủa sự tham gia chiến tranh — lao động không cầm súng nhưng góp phần lớn.

Sự tàn phá từ chiến tranh & những ngày bom đạn: Chiến dịch Atlante (cuối năm 1953): Quân Pháp mở chiến dịch nhằm đánh chiếm vùng tự do của Liên khu 5. Phổ Thuận là một trong những địa điểm bị ném bom, bị tấn công. Xóm Quạ Kêu không tránh khỏi — xưởng dệt Việt Thắng bị đốt cháy; sinh kế người dân bị hủy hoại. Máu và hy sinh có mặt ở đây. Trong thời chống Mỹ, ở những đoạn đường hiểm trở trong xóm, quân Mỹ, biệt kích (dân gọi là “Mỹ lết”) thường phục kích vào ban đêm. Xóm Quạ Kêu có vị trí địa hình rừng cây, đường mòn hiểm, nên trở thành nơi rình rập, phục kích, gây lo sợ cho dân.

Tiếng quạ, từ dấu hiệu tự nhiên thành tiếng thông báo chiến sự: Một trong những điểm đặc biệt mà ký ức người dân hay kể lại là cách con quạ trở thành “cán bộ tình báo vô hình”: Tiếng quạ kêu vốn là âm thanh quen thuộc, nhưng trong chiến tranh, nó trở thành dấu hiệu báo hiệu có kẻ lạ, có lính địch đến. Khi “quạ kêu giần giật đổ hồi” vào ban đêm, du kích, dân làng cảnh giác – có thể có phục kích hoặc lính địch di chuyển. Nói cách khác, điều tự nhiên trở thành thông tin: tiếng quạ không chỉ là âm thanh, mà là báo nguy, nó giúp người dân và du kích phòng bị. Điều này cho thấy mức độ tinh tế trong quan sát thiên nhiên, môi trường của người dân trong thời bom đạn.

Hồi ức cá nhân & mất mát: Có những bà con ở “Xóm Quạ Kêu” kể rằng họ không thể quên được cảnh xóm bị bom ném xuống, đêm tối, ánh chớp của bom, tiếng nổ, rồi sáng ra thấy ruộng vườn, xưởng dệt bị tàn phá. Họ mất nhà cửa, mất người thân, mất công cụ lao động, mất cây trồng. Sinh kế bị biến dạng. Nhưng bên cạnh đó cũng là những câu chuyện của tinh thần, của tình người: dân làng giúp nhau đào hầm tránh bom, người mẹ chở con nhỏ qua những con đường rừng để tránh máy bay thả bom, người cha lặng lẽ mang tấm vải dệt được che cho bạn bè du kích… Những chuyện ấy ít được ghi chép chính thức nhưng sống mãi trong lời kể.

Xin nói ngay, không chỉ quạ và linh trưởng mới có những khả năng đặc biệt ấy, mà nhiều con vật khác, đặc biệt là con chó, đều có những khả năng này. Nhưng con quạ thì dù sao vẫn khác. Nó là con chim mà người đời thường hay dị nghị, cho rằng nó kêu báo điềm gở. Nhưng bà con ở “xóm quạ kêu” Đức Phổ thì không nghĩ vậy.

Tôi mong, nếu lúc nào bà con trong xóm nảy ra ý định muốn viết “xóm sử” về chính cái xóm của mình, tôi sẵn sàng giúp một tay, vì tôi rất thú vị với cái ‘'xóm quạ kêu” này.

Những câu chuyện mà tôi nghe được từ người già trong xóm đã cho tôi hai hình dung. Một là, có những lý do về địa lý hay thiên nhiên ở xóm này đã khiến những con quạ lấy làm thích thú, và chúng đồng ý với nhau cùng chọn “nơi này là quê hương”. Hai là, những con quạ khi về tụ tập hàng nghìn con trong xóm nhỏ ấy, chúng không hề mang lại điềm gở cho xóm, mà ngược lại.

Tôi trả lời anh: “Tôi cũng nói như một con quạ trung thực, là trong tình yêu văn học Nga của tôi có tình yêu những trang văn của Chingyz Aimatov".

Bây giờ thì người ta phát hiện con quạ còn có những kỹ năng thể hiện trí thông minh giống như người. Như đoạn dẫn sau đây về bài viết khoa học trên BBC: "Tên của con quạ là Betty. Và nó đang trở thành ngôi sao. Một nhóm các nhà khoa học của Đại học Oxford kinh ngạc quan sát nó tùy tiện nhặt lên một đoạn dây kim loại trong lồng, sau đó sử dụng một vật thể gần đó để uốn cong ở một đầu, biến dây kim loại thành một chiếc móc. Chiếc móc này giúp Betty nâng một chén thịt nhỏ từ bên trong một ống nhựa lên. Bữa trưa đã sẵn sàng với mẩu tim lợn ngon lành".

Thực ra, thí nghiệm như thế để đánh giá trí thông minh của con quạ, là cần thiết nhưng chưa đủ. Cái mạnh nhất ở con quạ không phải là những kỹ năng bình thường của con người, mà là sự nhạy cảm đặc biệt, khả năng "đánh hơi" những biến cố, như bầy quạ ở "xóm quạ kêu" đã đánh hơi được lính biệt kích Mỹ phục kích những du kích ở "xóm quạ kêu", để lên tiếng báo động kịp thời bằng những tiếng kêu xé tai. Trong hành động ấy của những con quạ, có ẩn giấu tình cảm, đó là tình thương yêu với những người dân xóm quạ kêu, nơi đón nhận bầy quạ trú ngụ, và là sự căm ghét với những kẻ xa lạ và hung hãn toan gây nên chết chóc ở cái xóm yên lành ấy.

Ý nghĩa & bài học từ Xóm Quạ Kêu.Qua những câu chuyện trên, Xóm Quạ Kêu cho ta thấy một vài điều rất quan trọng:

Sự tham gia phong phú của hậu phương: Thường chúng ta nghĩ về chiến tranh là mặt trận, bom đạn, lính, tướng. Nhưng Xóm Quạ Kêu cho thấy rằng hậu phương, lao động sản xuất, trồng bông, kéo sợi, dệt vải — tất cả đóng vai trò thiết yếu. Nếu hậu phương không vững, sản xuất không có, vật liệu không có, bộ đội sẽ chịu thiếu — ảnh hưởng lớn đến khả năng chiến đấu.

Mạng lưới liên kết dân – du kích – cách mạng: Xóm Quạ Kêu là nơi dân thường trực tiếp hỗ trợ du kích và cách mạng qua lao động, qua thông tin (tiếng quạ kêu báo có địch), qua che chở. Họ không chỉ là bị động chịu ảnh hưởng mà chủ động tham gia vào cuộc chiến – không phải bằng vũ khí, nhưng bằng trí thông minh, bằng công sức, bằng sự hy vọng.

Sức mạnh từ ký ức & tinh thần: Những câu chuyện cá nhân, tiếng quạ kêu, việc giữ nghề dệt, tổ chức xưởng dệt ngay trong vùng nguy hiểm… tạo nên ký ức – tức là những hình ảnh, âm thanh, mùi vị khói lửa mà dù thời gian có phai nhạt thì vẫn không thể xoá hoàn toàn. Ký ức đó có thể truyền cảm hứng cho thế hệ sau – về lòng kiên cường, về tinh thần không bỏ cuộc.

Tính thiên nhiên + chiến tranh giao thoa: Việc âm thanh thiên nhiên như tiếng quạ trở thành tín hiệu chiến sự là một ví dụ tuyệt vời về cách người dân sống hoà mình với thiên nhiên, coi nó như bạn đồng hành — hoặc thậm chí như “cảm biến”. Điều này cho thấy một mức độ quan sát tinh tế và khả năng thích ứng trong hoàn cảnh khắc nghiệt.

Xóm Quạ Kêu – biểu tượng nhỏ của thời hoa lửa. Xóm Quạ Kêu là một mảnh ký ức nhỏ nhưng đầy sức nặng trong lịch sử kháng chiến của Quảng Ngãi và cả nước: Nó là nơi mà con người sống giữa thiên nhiên, giữa bom đạn, vừa chịu đựng vừa sáng tạo. Là vùng tự do, nhưng không hề yên bình — nơi mà sự khốc liệt của chiến tranh len lỏi vào từng nghề dệt, từng ngọn quạ, từng đêm người dân không ngủ vì tiếng bom. Là nơi người dân đóng vai trò không thể thiếu: lao động, che chở, cảnh giác, sáng tạo trong hoàn cảnh khốn khó.

Những hoa của “thời hoa lửa” không chỉ nở nơi mặt trận mà nở trong đời sống thực của người dân như Xóm Quạ Kêu — trong công việc trồng bông, kéo sợi, trong tiếng quạ kêu vọng đêm, trong sự sống sót qua bom đạn.

Tôi viết bài này để mọi người hiểu thêm về con quạ và yêu thêm một xóm nghèo ở quê tôi từng có thời được mang tên là "Xóm Quạ Kêu".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Câu chuyện lịch sử 1 | Câu chuyện thời hoa lửa