Khác

câu chuyện lịch sử 112

Hà Tĩnh12/08/2026Phường Hà Tiên (Đoàn phường Hà Tiên)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
câu chuyện lịch sử 112

“Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi sẽ tiếp tục hoạt động” - lời tuyên bố đanh thép trước tòa án đế quốc của đồng chí Hà Huy Tập chính là tuyên ngôn về bản lĩnh kiên cường, bất khuất của người cộng sản

Đối diện với những bản án bất công của kẻ thù

Đồng chí Hà Huy Tập có 35 năm tuổi đời, 16 năm hoạt động cách mạng liên tục, trong đó có 2 lần bị bắt giam, kết án tù và quản thúc.

Lần bị bắt thứ nhất, chiều ngày 01/5/1938, trong một chuyến đi công tác, trước sự truy lùng gắt gao của kẻ thù, do có nội phản chỉ điểm, mật thám Pháp lấy cớ Hà Huy Tập mang thẻ thuế thân của người khác, bắt đồng chí, đưa về giam ở Khám Lớn Sài Gòn.

Ngày 24/5/1938, đồng chí bị đưa ra trước Tòa tiểu hình Sài Gòn xử về tội mang thẻ giả. Tòa kết án Hà Huy Tập 2 tháng tù và 5 năm không được lưu trú ở Nam Kỳ. Đồng chí làm đơn chống án vì nếu chỉ có việc thẻ thuế thân mang tên người khác thì không phải ra tòa xử. Tuy nhiên, thực dân Pháp muốn kéo dài việc giam giữ Hà Huy Tập nên mãi đến ngày 26/7/1938, tòa Thượng thẩm Sài Gòn xử phúc án, nâng mức án lên thành 6 tháng tù và 5 năm quản thúc. Cộng với 2 tháng của án trước, thành 8 tháng tù và 5 năm quản thúc.

Sau khi chịu xong án, đồng chí Hà Huy Tập bị đưa về quản thúc tại quê nhà ở Hà Tĩnh, dưới sự theo dõi, giám sát của mật thám Pháp và hằng tháng phải tới dinh Tuần phủ để trình diện. Trong cảnh bị giam lỏng, thông tin bị nhiễu loạn, Hà Huy Tập không hề nản chí, kiên trì theo đuổi lý tưởng đã chọn và dũng cảm vượt qua mọi khó khăn.

Lần bị bắt thứ hai, chỉ mấy tháng sau khi Chiến tranh Thế giới thứ 2 nổ ra. Ngày 30/3/1940, thực dân Pháp ra lệnh bắt Hà Huy Tập, đưa đồng chí về giam ở Khám Lớn Sài Gòn.

Ngày 27/8/1940, Tòa tiểu hình Sài Gòn đưa ra xét xử 17 người, trong đó có đồng chí Hà Huy Tập về tội “hoạt động lật đổ”. Ngày 03/9/1940, Tòa tiểu hình Sài Gòn tuyên án đồng chí Hà Huy Tập và đồng chí Lê Hồng Phong tội “đứng đầu bộ máy bí mật của Quốc tế thứ ba ở Đông Dương”, mỗi người 5 năm tù và 10 năm quản thúc.

Ngày 22/11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ nhưng bị thất bại. Các cuộc khủng bố, tàn sát những người cách mạng xảy ra khắp các vùng thành thị và thôn quê của Nam Kỳ. Mặc dù, khi ấy đồng chí Hà Huy Tập đang bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn nhưng thực dân Pháp quyết định hủy án 5 năm tù và 10 năm quản thúc trước đó, thay vào là một bản án hết sức vô lý nhằm trấn áp phong trào cách mạng của quần chúng, mà trước hết là nhằm vào số cán bộ lãnh đạo của Đảng.

Ngày 25/3/1941, tòa án quân sự Sài Gòn mở phiên tòa đại hình xét xử hàng trăm chiến sĩ cộng sản, trong đó có đồng chí Hà Huy Tập. Tòa án thực dân quyết định bản án tử hình đối với những nhân vật quan trọng của Đảng Cộng sản theo luật đặc biệt thời chiến đối với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... vì tội “chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ”.

Kiên định giữ vững khí tiết người cộng sản

Thực dân Pháp biết rõ Hà Huy Tập là nhân vật chủ chốt của Đảng, chúng đã dùng những thủ đoạn tra tấn tàn khốc nhất để khai thác thông tin về Trung ương Đảng và kế hoạch khởi nghĩa Nam Kỳ. Tuy nhiên, kẻ thù bất lực trước thái độ kiên định để bảo vệ tổ chức Đảng của Hà Huy Tập. Đồng chí trở thành hạt nhân đoàn kết, tổ chức tù nhân đấu tranh chống chế độ lao tù phản động, đồng thời là hình ảnh tiêu biểu về tinh thần không ngừng học tập, rèn luyện ý chí cách mạng.

Bản lĩnh của Hà Huy Tập không chỉ thể hiện ở sự cứng rắn với kẻ thù, mà còn ở sự điềm tĩnh, bình thản khi đối diện với án tử. Từ Khám Lớn Sài Gòn, Hà Huy Tập viết thư gửi cho gia đình: “Ngày 03/9/1940, tôi bị Tòa Thượng thẩm Sài Gòn xử 5 năm tù. Ngày 25/3/1941, tôi bị Tòa án binh Sài Gòn tuyên án tử hình về tội “hoạt động cộng sản” và “xúi giục phá hoại quốc phòng”. Tôi đã nhờ thầy kiện viết thư sang Vichy xin quan Quốc trưởng Pêtanh cho ân xá. Nếu được ân xá thì phải khổ sai chung thân. Nếu không được ân xá thì sẽ bị bắn hay bị chém. Cương nhận được thư này thì viết thư về khuyên mẹ chớ khóc lóc buồn rầu. Nếu tôi phải bị chết thì ở nhà không nên thờ cúng, điếu phúng, không cần tìm người lập tự. Gia đình bạn hữu chớ xem tôi như là người đã chết mà buồn, trái lại nên xem tôi như người còn sống, nhưng đi vắng vô hạn... mà thôi!

Nếu tôi được khổ sai chung thân thì thường thường sẽ có thơ về thăm gia đình. Nếu chẳng may mà phải chết thì bức thơ này là thơ vĩnh biệt. Tôi chúc cho mọi người trong gia đình và tất cả các bạn hữu gần xa được hạnh phúc và khương ninh”[1].

Với Hà Huy Tập, cái chết không phải là kết thúc. Tinh thần lạc quan cách mạng của đồng chí đã biến cái chết trở nên nhẹ nhàng, thanh thản vì đã sống một cuộc đời xứng đáng, phục vụ cho một mục đích lớn lao hơn.

Hy sinh anh dũng trước họng súng kẻ thù

Mặc dù bị tòa án thực dân quyết định án tử hình, đồng chí Hà Huy Tập vẫn kiên định nêu cao khí tiết của người cách mạng. Đồng chí bác bỏ việc trạng sư tham gia bào chữa, bởi đồng chí thực sự hiểu rõ, nếu người cách mạng chấp nhận lời bào chữa này để thoát khói án tử đồng nghĩa với việc họ đã tự phủ nhận lý tưởng của mình, đã phản bội lại sự hy sinh, mất mát của Đảng và nhân dân.

Đứng trước ranh giới của sự sống và cái chết, đồng chí Hà Huy Tập đã tuyên bố đanh thép: “Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi sẽ tiếp tục hoạt động!”. Với đồng chí, cách mạng không phải là một sự lựa chọn nhất thời, mà là thực hiện trách nhiệm với vận mệnh quốc gia.

Với tuyên bố đanh thép trên, đồng chí đã truyền đi một thông điệp vô cùng mạnh mẽ cho phong trào cách mạng rằng, cuộc chiến không dừng lại ở đây mà sẽ còn tiếp tục cho đến ngày toàn thắng và đây cũng chính là lời thề son sắt của một người con ưu tú, đã dâng hiến trọn vẹn đời mình cho độc lập dân tộc.

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp dựng nên ở Hóc Môn 3 trường bắn. Ngày 28/8/1941, tại trường bắn ở ngã tư Giếng nước, Hóc Môn, Gia Định (nay là Trung tâm y tế thành phố Hồ Chí Minh), đồng chí Hà Huy Tập bị thực dân Pháp xử bắn cùng với một số cán bộ lãnh đạo khác của Đảng.

Ngã xuống ở tuổi 35, độ tuổi đang tràn đầy nhiệt huyết, sáng tạo và tinh thần cống hiến, đồng chí Hà Huy Tập đi vào cõi vĩnh hằng với khí phách hiên ngang, thái độ cương quyết giữ trọn niềm tin vào tương lai thắng lợi của cách mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn