câu chuyện lịch sử

95 năm xây dựng và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều đồng chí Tổng Bí thư xuất sắc. Chúng ta có thể kể đến tên tuổi và sự nghiệp của những Tổng Bí thư sau đây gắn với những thắng lợi tiêu biểu của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI
Đồng chí Trường Chinh giữ chức vụ Quyền Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ tháng 11/1940 đến tháng 5/1941, Tổng Bí thư từ tháng 5/1941 đến tháng 10/1956 và từ tháng 7/1986 đến tháng 12/1986. Sự nghiệp và tên tuổi đồng chí gắn liền với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Được giao trách nhiệm Quyền Tổng Bí thư tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11/1940 và chính thức tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5/1941, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã cùng Trung ương Đảng bước vào một thời kỳ chuẩn bị trực tiếp cho Cách mạng Tháng Tám.
Trước hết là sự chuẩn bị về lý luận, đặc biệt từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 5/1941 đã quyết định thay đổi chiến lược, giương cao ngọn cờ cách mạng giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xúc tiến khởi nghĩa vũ trang. Có thể nói, đến giữa năm 1941, căn cứ diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và xúc tiến chuẩn bị những điều kiện để tiến lên khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền khi có thời cơ.
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5/1941 nêu rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[1].
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Trường Chinh, Đảng khẩn trương bắt tay vào chuẩn bị những điều kiện cho khởi nghĩa giành chính quyền, trước hết là xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa.
Sự ra đời Mặt trận Việt Minh là sự chuẩn bị lực lượng chính trị trực tiếp cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cơ sở để tiến lên giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám. Mặt trận Việt Minh nhanh chóng phát triển rộng khắp các vùng rừng núi Việt Bắc rồi lan xuống các tỉnh đồng bằng và vào các đô thị, từ Bắc vào Nam và trở thành một phong trào mạnh mẽ, rộng khắp, với các đoàn thể quần chúng đại diện cho tất cả giai cấp và tầng lớp của dân tộc Việt Nam: công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trí thưc, thiếu niên nhi đồng. Trong Cách mạng Tháng Tám, đông đảo nhân dân đã tập trung dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh, đoàn kết đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, lật đổ chế độ phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
Từ sau khởi nghĩa Bắc Sơn, Trung ương Đảng chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang với việc duy trì và phát triển đội du kích Bắc Sơn, sau đó tiến lên xây dựng các trung đội Cứu quốc quân, đến ngày 22/12/1944 thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và đến tháng 5/1945 thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân. Lực lượng vũ trang cách mạng, tuy còn sơ khai, nhưng đã trở thành lực lượng nòng cốt cho cuộc đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Trường Chinh, tháng 3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, là một cao trào cách mạng trực tiếp dẫn tới cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám.
Căn cứ địa cách mạng cũng được chú ý lãnh đạo xây dựng từ căn cứ địa, khu giải phóng Việt Bắc rộng lớn đến căn cứ địa, chỗ đứng chân của lực lượng cách mạng các địa phương, đến tháng 8/1945 đã trở thành một hệ thống rộng lớn, rộng khắp, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ các địa phương được liên tục, kịp thời, khi thời cơ đến nhanh chóng phát động nhân dân đứng lên khởi nghĩa.
Có thể nói, từ năm 1941 đến năm 1945, đồng chí Trường Chinh Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng giữ vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với những thắng lợi của cách mạng Việt Nam mà trên hết, trước hết là thắng lợi của cách Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.



