Hưng Yên28/11/2025Tô Phương Linh (Trường THPT Tây Tiền Hải)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Trần Ngọc Yến Giữa miền đồng bằng Bắc Bộ mênh mang gió lúa, nơi những con sông như những dải lụa bạc uốn lượn ôm lấy cánh đồng xanh thẳm, Thái Bình hiện lên tựa tấm thảm lụa mềm được dệt bởi nắng, bởi phù sa và bởi bao thế hệ con người hiền hòa. Chính trên vùng đất phẳng lặng như mặt gương trời ấy, nơi chim lạc nghiêng cánh qua mùa lúa chín, đất trời đã hun đúc nên một thiên tài mà sử sách đời đời tôn vinh: Lê Quý Đôn – người được ví như minh châu cất giấu giữa lòng quê lúa, sáng mãi không mờ theo năm tháng.Thuở ấu thời, tài năng của ông đã rực lên giữa vườn học vấn như ngôi sao sớm lóe sáng trên bầu trời đêm. Người làng Độc Lập truyền nhau rằng: cậu bé Đôn đọc sách nhanh như gió thoảng chân trời, nhớ sâu như mưa thấm qua tầng đất mẹ. Mỗi trang kinh truyện mở ra đối với ông chẳng khác nào cánh cửa vô hình dẫn vào kho tàng tri thức mênh mông, nơi các bậc hiền triết muôn đời thì thầm trò chuyện. Khi bọn trẻ trong làng còn mải rong chơi bên bờ sông, cậu bé họ Lê đã như một tiểu hiền quân khép mình bên án thư, đôi mắt đen tròn long lanh ánh sáng của trí tuệ, tiếp nhận từng dòng chữ như người uống suối nguồn trong trẻo. Trí nhớ của ông khiến người đương thời sững sờ: học một biết mười, xem qua mà nhớ mãi, tựa như mực đã thấm sâu vào đá. Lớn lên trong thời buổi nhiễu nhương, giữa cảnh thiên hạ đổi thay, Lê Quý Đôn bước vào con đường khoa cử như rồng gặp mây, phượng gặp gió. Đỗ tiến sĩ khi tuổi đời còn xanh, ông trở thành bậc đại nho sĩ khiến triều đình kính trọng và dân chúng nể phục. Nhưng phẩm chất cao quý nhất của ông không chỉ nằm ở học vấn mênh mông, mà còn ở tấm lòng ôm chứa giang sơn. Dù đi đến bất cứ phương trời nào, ông đều quan sát từng dải núi, từng con sông, từng nếp nhà, từng tập tục — như người thợ kim hoàn nhặt nhạnh từng hạt vàng nhỏ. Ông ghi lại trong sách không chỉ kiến thức, mà cả hồn đất, hồn người, hồn trời Nam. Những tác phẩm như Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục… chẳng khác nào kho báu được chắt từ máu mực suốt đời, là tiếng vọng ngàn năm của tri thức Việt. Những năm làm quan, ông được giao trông coi việc quốc khố – một nhiệm vụ đầy hiểm nguy khi bao kẻ gian tà rình chờ che giấu tội lỗi. Thế nhưng trí tuệ của ông sắc như gươm rồng, tâm sáng như ngọc tuyết, chẳng điều gian trá nào qua được mắt ông. Chỉ một lần rà soát sổ sách, ông phát hiện bao sai lệch, vạch rõ từng mối gian lận với thái độ không chút sợ hãi. Người đời ca tụng ông là tấm gương toàn bích của chính trực, là ngọn đèn soi giữa đêm tối quan trường, là tiếng chuông thức tỉnh những kẻ mờ tâm trí. Thái Bình vì thế càng rực rỡ trong lòng hậu thế: mảnh đất của lúa gạo không chỉ nuôi dưỡng thân thể con người mà còn nuôi dưỡng trí tuệ của dân tộc. Nếu những cánh đồng vàng óng là hơi thở của đất, thì tên tuổi Lê Quý Đôn chính là khí thiêng của trời, là ánh lửa vĩnh cửu trong căn nhà chung của nền văn hiến Việt Nam. Ánh sáng ấy, dẫu trải qua bao biến thiên lịch sử, vẫn như vầng nhật nguyệt treo cao, dẫn đường cho những ai khát học, khát nghề, khát làm người tử tế.Và trong dòng chảy mênh mông của lịch sử, hình bóng nhà bác học ấy vẫn đứng hiên ngang như cây đại thụ nghìn năm giữa miền gió lộng, tỏa bóng mát cho bao thế hệ tìm đến. Tên ông khắc vào trời đất, vang lên trong từng trang sử, sống mãi cùng mỗi bước tiến của dân tộc. Để rồi mỗi khi nhắc đến nền học thuật nước Nam, người đời khẽ nghiêng mình – bởi từ Thái Bình hiền hòa đã bước ra một bậc kỳ tài, khiến cả thế gian phải ngước nhìn. Nguyễn Minh Anh Đã có một đợt tác động tới thân thế và sự nghiệp của các vị thần linh sông núi, đất đai và ngành nghề như thế này, được tạm gọi là “Hùng Vương hóa”! Tức thị: Các vị đều được thu hút vào, tập hợp lại ở trong vòng hào quang của các Vua Hùng. Sơn Tinh trở thành con rể, làm bộ tướng, cận thần của nhà vua thậm chí thành “cố vấn tối cao”, khuyên giải nhà vua từ bỏ đối đầu, nhường ngôi cho Thục Phán, theo tinh thần “hòa giải dân tộc” khi xảy ra cuộc chiến Hùng-Thục! Lăng Thị Tiêu thì sau những trận đem quân bản bộ giúp Vua Hùng đánh giặc, đã được nhà vua lựa chọn, thu nạp làm Hoàng Hậu.Thánh Gióng thì vì nghe theo lời kêu gọi “Cần Vương” giúp Vua Hùng đánh giặc mà đã có thể từ chỗ chỉ là một cậu bé “ba năm chẳng nói chẳng cười trơ trơ” vụt trở thành dũng sĩ khổng lồ, quét sạch xâm lược ra khỏi cõi bờ! Những Mai An Tiêm, Chử Đồng Tử…, cũng thế, đều vốn là hoặc trở thành con nuôi hoặc con rể Vua Hùng, làm nên công và nghiệp lớn, ở và từ cương vị đó, cho dù cũng bởi quan hệ với nhà vua mà có khó khăn, trục trặc! Đền Trung - nơi nhà Vua cùng các lạc hầu, lạc tướng bàn quốc sự.“Hấp lực Hùng Vương” vậy là đã thành hiện thực của sự tràn đầy trong thế giới huyền thoại nước Việt! Được sự thu hút và thu dung của hấp lực này, quầng sáng của nhiều vị thần linh trên thần điện nước Việt cũng trở nên rực rỡ hoặc uy nghiêm hơn. Như Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử thì đã trở thành lừng lẫy ba trong bốn “Tứ bất tử”. Lăng Thị Tiêu hóa thân cũng thành “Tây Thiên Quốc Mẫu”. Những giá trị tinh thần, đạo đức cả triết lý nữa, cũng xuất lộ, khi Sơn Tinh - như đã nói ở trên - trở thành “mẫu đề” của tinh thần “hòa giải dân tộc”; Thánh Gióng thì làm và là khuôn mẫu của tinh thần cao thượng, khi thắng giặc rồi thản nhiên bỏ lại bộ giáp trụ của công danh mà bay về trời; Chử Đồng Tử: Mẫu đề của tấm lòng hiếu thảo và hiếu thuận; Mai An Tiêm: Gương sáng của sức chịu đựng và kiến tạo…“Hấp lực Hùng Vương” không dừng ở đó mà còn “tràn bờ” tới những miền cổ tích, để - chẳng hạn - làm cho sự tích Trầu-Cau cũng có cống hiến được tình nghĩa gia đình, vợ chồng, anh em… và sự tích Bánh Chưng-Bánh Giầy thì có thêm các ý nghĩa vũ trụ cùng nhân sinh sâu sắc, đẹp đẽ cho việc tạo tác các đồ ăn thức uống “văn hóa ẩm thực” dân tộc.Và đồng thời với những tác động như thế, “Hấp lực Hùng Vương” cũng hiển nhiên khiến được sự hình dung bức tranh toàn cảnh về thời đại Dựng nước và Giữ nước đầu tiên của lịch sử dân tộc, sinh động và phong phú lên, những sắc màu và đường nét rất nhiều. Trần Thị Hải Anh Đêm Thái Bình lặng như tờ. Trên con đê dài chạy qua làng, trăng vằng vặc soi xuống dòng sông Diêm Hộ lấp loáng. Bà Lự – người đã ngoài tám mươi – ngồi trên bậc đá, tay lần tràng hạt, mắt dõi về phía chân trời, nơi gió biển vẫn thổi ràn rạt như bao đời nay. Bà kể cho lũ trẻ trong làng nghe về thuở ông cha mở đất. Khi ấy, Thái Bình còn là vùng bãi bồi hoang vu, người dân theo con nước mà sinh nhai. Có những người đã ngã xuống giữa sóng dữ, có những người dựng chòi giữ đê, cắm cọc tre mà gọi đất hóa làng. Cứ thế, Thái Bình lớn lên trong tiếng sóng, trong mùi mặn của muối và trong giọt mồ hôi của những người con kiên cường. Chiến tranh tràn qua, dòng Diêm Hộ không còn chỉ chở nặng phù sa mà còn mang theo bao bóng người ra đi. Bà Lự khi ấy mới đôi mươi, gùi cơm nuôi cán bộ, che giấu vũ khí trong những thúng cá. Trăng đêm vẫn soi, nhưng ánh trăng khi ấy thấm đầy khói lửa. Giờ hòa bình đã lâu, dòng sông lại hiền lành như tấm lòng người Thái Bình. Con cháu bà đã đi khắp nơi: người dạy học, người làm muối, người nuôi tôm. Mỗi khi có dịp trở về, ai cũng muốn ngồi bên bờ đê cũ, nghe tiếng gió rì rào như lời quê hương thủ thỉ. Bà Lự mỉm cười, khẽ nói: “Đất Thái Bình chẳng giàu sang gì đâu, nhưng nó nuôi người bằng nghĩa tình. Dù đi xa mấy, chỉ cần nghe tiếng sóng Diêm Hộ là thấy mình trở về.” Trăng vẫn sáng. Sông vẫn trôi. Và câu chuyện về vùng đất ấy – vùng đất của gió, của trăng, của lòng người – vẫn được kể mãi, như hơi thở ngàn năm của Thái Bình. Phạm Thanh Phương Ngày 18-10, Hội nữ chiến sĩ Trường Sơn Thái Bình tổ chức gặp mặt kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20-10-1930 / 20-10-2025) và tổng kết công tác Hội sau 12 năm thành lập. Thay mặt Trung ương Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam, Thiếu tướng Võ Sở - Chủ tịch Hội và Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn - Phó chủ tịch thường trực Hội đã về dự, chỉ đạo chương trình. Tại buổi gặp mặt, các đại biểu đã cùng nhau ôn lại truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam nói chung và nữ chiến sĩ Trường Sơn nói riêng. Những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hàng vạn nữ chiến sĩ Trường Sơn, trong đó có hàng nghìn cô gái quê hương Thái Bình đã tình nguyện ra nơi tuyến lửa, gia nhập các đơn vị quân đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân giao thông... chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Với tinh thần "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", các chị đã vượt qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù và biết bao điều kiện khắc nghiệt nơi chiến trường để hoàn thành nhiệm vụ, góp phần vào chiến thắng của công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Phạm Quế Chi Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255, người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Theo sách “Tông phả bì kỷ yếu tân biên” của Phạm Côn Sơn, Phạm Ngũ Lão là cháu tám đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.Tương truyền, Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi nhưng ông vẫn ngồi thản nhiên. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích. Thấy vậy Hưng Đạo Vương lại gần hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Trần Hưng Đạo. Trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (lần thứ hai và lần thứ ba), Phạm Ngũ Lão đã lập được nhiều chiến công. Năm 1285, ông cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh khuyển khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Sau đó, Phạm Ngũ Lão được lệnh mang ba vạn quân phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và tiêu diệt được tướng địch của giặc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, Phạm Ngũ Lão cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng. Trận này quân nhà Trần bắt sống các tướng giặc Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhị. Phạm Ngũ Lão tiếp tục truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ. Ông đã có những đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông. Phạm Ngũ Lão được Trần Hưng Đạo tin yêu, mến phục và gả con gái nuôi là quận chúa Anh Nguyên. Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu. Không chỉ có tài về quân sự, Phạm Ngũ Lão còn có năng khiếu và chương. Ông rất thích đọc sách, ngâm thơ và từng viết nhiều bài thơ về chí làm trai, lòng yêu nước nhưng hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại Thuật hoài và Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương. Năm 1320, Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ sáu mươi lăm tuổi. Khi ông mất, via Trần Minh Tông đã ra lệnh nghỉ chầu năm này để tỏ lòng thương nhớ. Nhân dân xã Phù Ủng dựng đến thờ Phạm Ngũ Lão ngay trên nền nhà cũ của ông. Với những chiến công hiển hách và với Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão đã trở thành nhân vật ưu tú của thời đại nhà Trần. Ông xứng đáng được muôn đời ngợi ca, tôn vinh. Phạm Ngọc Tuệ Năm 1968, giữa rừng già miền Đông Nam Bộ, cô giao liên Lan mới 19 tuổi, mỗi ngày băng qua những con suối, mang thư và thuốc men đến các đơn vị chiến đấu. Trên vai cô luôn có một chiếc khăn rằn — quà của mẹ trao ngày cô lên đường: “Mang theo, để nhớ quê và nhớ lý tưởng con nhé.” Một hôm, giữa cơn mưa bom dữ dội, Lan bị thương khi đang bảo vệ túi tài liệu mật. Cô cắn răng giấu tài liệu vào hốc cây rồi ngất đi. Khi đơn vị tìm thấy cô, chiếc khăn rằn đã sạm khói bom, nhưng túi tài liệu vẫn nguyên vẹn — nhờ đó, trận phản công của ta thành công rực rỡ. Sau ngày đất nước thống nhất, chiếc khăn rằn ấy được giữ lại trong bảo tàng — như biểu tượng của lòng dũng cảm, niềm tin và tình yêu quê hương của những người con Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Nguyễn Hữu Anh Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những vị anh hùng kiệt xuất, một nhân cách lớn và là niềm tự hào vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình – một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước và hiếu học. Từ thuở nhỏ, Võ Nguyên Giáp đã sớm thể hiện tinh thần kiên cường, ý chí học tập và lòng yêu nước sâu sắc. Khi trưởng thành, ông trở thành một trí thức yêu nước, tham gia phong trào cách mạng, rồi trở thành người học trò, người đồng chí gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Đại tướng gắn liền với những trang sử hào hùng nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Võ Nguyên Giáp không chỉ là vị tướng tài ba đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là người đặt nền móng cho học thuyết quân sự Việt Nam hiện đại. Năm 1944, theo chỉ thị của Bác Hồ, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Từ đội quân chỉ có 34 chiến sĩ, dưới sự lãnh đạo của ông, quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc, đánh bại những đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đó không chỉ là thắng lợi của quân và dân Việt Nam mà còn là biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng tiếp tục chỉ huy quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông đã cùng Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Dù là vị tướng của những chiến thắng vĩ đại, Võ Nguyên Giáp vẫn luôn sống giản dị, khiêm tốn, hết lòng vì dân, vì nước. Ông từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do.” Không chỉ là nhà quân sự thiên tài, Đại tướng còn là nhà văn hóa, nhà giáo dục và nhà sử học có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Ông để lại nhiều tác phẩm quý giá về tư tưởng, chiến lược quân sự, lịch sử và lòng yêu nước. Trong cuộc sống đời thường, ông luôn gần gũi, chan hòa, được nhân dân yêu mến gọi bằng cái tên trìu mến “Đại tướng của nhân dân”. Khi ông qua đời vào ngày 4 tháng 10 năm 2013, hàng triệu người dân từ khắp mọi miền đất nước đã nghiêng mình tiếc thương, thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với vị anh hùng dân tộc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là biểu tượng sáng ngời của trí tuệ, lòng dũng cảm và nhân cách Việt Nam. Cuộc đời ông là tấm gương vĩ đại về lòng yêu nước, sự tận tụy và tinh thần không khuất phục trước mọi khó khăn. Tên tuổi và sự nghiệp của ông sẽ mãi mãi sống cùng non sông đất nước, trở thành niềm tự hào và động lực cho các thế hệ mai sau tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tạ Thùy Giang Trong dòng chảy lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam , có những con người không chỉ được nhớ đến bởi chiến công hiển hách, mà còn bởi tầm vóc tinh thần vượt thời gian . Một trong những tên tuổi bất tử ấy là Trần Hưng Đạo– vị tướng kiệt xuất, nhà chiến lược thiên tài và là biểu tượng cho lòng yêu nước sắt son của dân tộc. Trần Hưng Đạo, tên thật là Trần Quốc Tuấn, sinh vào thế kỷ XIII, trong một giai đoạn đầy biến động. Ông là con của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu họ vua Trần Thái Tông. Cuộc đời ông gắn liền với những trang sử oanh liệt chống lại vó ngựa xâm lăng của đế quốc Nguyên – Mông, lực lượng từng khiến cả châu Á và châu Âu khiếp sợ. Nhưng trước sức mạnh khủng khiếp ấy, vị tướng họ Trần vẫn bình tĩnh, mưu lược, và đầy niềm tin vào tinh thần đoàn kết của dân tộc. Không chỉ là một người chỉ huy tài năng, Trần Hưng Đạo còn là người có tầm nhìn sâu sắc về chiến lược quốc gia. Ông từng viết “Hịch tướng sĩ”, một áng văn bất hủ, vừa là lời kêu gọi, vừa là bản tuyên ngôn về lòng trung nghĩa và trách nhiệm với non sông. Trong đó, ông không nói về danh lợi, mà nói về lòng yêu nước, về nỗi nhục mất nước và về danh dự của người cầm gươm giữ yên bờ cõi. “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa…” – những dòng ấy không chỉ thể hiện tâm can của một vị tướng, mà còn là tiếng nói chung của cả dân tộc trong những ngày lâm nguy . Dưới sự lãnh đạo của ông, quân dân nhà Trần đã ba lần đánh tan quân Nguyên – Mông vào các năm 1258, 1285 và 1288. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là đỉnh cao của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, khi Trần Hưng Đạo cùng các tướng sĩ sử dụng chiến thuật cắm cọc gỗ ngầm dưới sông, tiêu diệt toàn bộ hạm đội giặc. Từ đó, dòng sông Bạch Đằng trở thành chứng nhân lịch sử, chảy mãi cùng niềm tự hào dân tộc. Điều đáng quý ở Trần Hưng Đạo không chỉ là tài năng mà còn là đức độ. Dù từng chịu nỗi oan gia tộc với triều đình, ông vẫn một lòng trung thành, đặt lợi ích quốc gia lên trên thù riêng . Khi bệnh nặng, vua Trần Nhân Tông hỏi kế sách giữ nước, ông chỉ khuyên: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc.” Đó không chỉ là lời dặn cho một thời, mà là chân lý trường tồn về trị quốc an dân. Ngày nay, khi nhắc đến Trần Hưng Đạo, người Việt không chỉ nhớ đến một vị tướng đã đi vào huyền thoại, mà còn nhớ đến một linh hồn của dân tộc – người đã sống và chiến đấu bằng tất cả trái tim dành cho Tổ quốc. Đền thờ ông vẫn nghi ngút khói hương bên bờ sông, và hình ảnh ông vẫn hiển hiện trong tâm trí mỗi người dân Việt như một biểu tượng bất diệt của lòng trung quân ái quốc. Trần Hưng Đạo ra đi hơn bảy trăm năm, nhưng tinh thần và khí phách của ông vẫn sống mãi. Mỗi khi đất nước gặp gian nguy, người Việt lại nhớ đến ông – vị anh hùng mang trong tim ngọn lửa không bao giờ tắt, ngọn lửa của ý chí, của niềm tin và của tình yêu nước bất diệt. Tô Tuấn Hưng Văn Miếu Hưng Yên là Văn Miếu hàng tỉnh, còn gọi là Văn Miếu - Xích Đằng, xây dựng năm Minh Mạng thứ 20 (năm 1839) trên khu đất cao, rộng khoảng 4.000 m2, thuộc thôn Xích Đằng, phường Lam Sơn, thị xã Hưng Yên. Văn Miếu - Xích Đằng hiện còn lưu giữ 9 tấm bia đá, trong đó 8 tấm bia được lập năm Đồng Khánh thứ 3 (năm 1888) và 01 tấm bia lập năm Bảo Đại thứ 18 (năm 1943) ghi danh các nhà khoa bảng Hưng Yên. Từ thời Trần đến năm 1919 - khoa thi cuối cùng của khoa cử nho học, 138 vị đỗ đại khoa được lưu danh. Học vị cao nhất là Trạng nguyên Tống Trân, người thôn An Cầu, huyện Phù Cừ (đời Trần); Trạng nguyên Nguyễn Kỳ, người xã Bình Dân, huyện Khoái Châu (triều Mạc). Chức vụ cao nhất là Lê Như Hổ, quận công triều Mạc. Trước đây, vào các ngày 10 tháng giêng và 14 tháng 8 tại Văn Miếu - Xích Đằng đều tổ chức tế lễ Khổng Tử, các quan lại đương triều về dự rất đông. Trải qua nhiều biến đổi, thăng trầm của lịch sử, Văn Miếu - Xích Đằng vẫn lưu giữ khá nguyên vẹn kiến trúc ban đầu gồm: tam quan, lầu chuông, lầu khánh, hai dãy tả vu, hữu vu. Văn Miếu Hưng Yên đã trở thành biểu tượng về văn hoá, văn hiến của tỉnh Hưng Yên.
Nguyễn Ngọc Anh Vào những năm đầu thế kỷ XX, làng Nam Huân Trung, xã Thống Nhất, huyện Kiến Xương (Thái Bình) vẫn còn yên bình dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Trong ngôi nhà ngói đỏ giữa làng, cậu bé Phạm Quang Lịch lớn lên trong một gia đình khá giả, được học chữ Nho, chữ Quốc ngữ, có cuộc sống đủ đầy. Thế nhưng, trong đôi mắt cậu luôn ánh lên nỗi trăn trở: “Tại sao dân mình phải chịu cảnh lầm than, nộp sưu, nộp thuế đến kiệt sức?”Khi mới hơn hai mươi tuổi, Phạm Quang Lịch đã quyết định rời bỏ con đường yên ổn để theo tiếng gọi của cách mạng. Ông bí mật tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, rồi trở thành một trong những hạt nhân tích cực truyền bá lý tưởng yêu nước ở Thái Bình. Những buổi đêm, ánh đèn dầu leo lét trong căn nhà nhỏ của ông không chỉ soi sáng những trang truyền đơn mà còn sưởi ấm tinh thần của bao thanh niên cùng chí hướng. Đến năm 1930, phong trào đấu tranh lan rộng. Dưới sự chỉ đạo của Phạm Quang Lịch, người dân Nam Thịnh, Kiến Xương đã treo cờ búa liềm, hô vang khẩu hiệu đòi ruộng đất, chống sưu cao thuế nặng. Tiếng hô ấy khiến cả vùng Thái Bình bừng dậy. Chính trong thời khắc đó, người dân gọi ông bằng cái tên đầy kính trọng: “Người thắp lửa cách mạng trên đất lúa.” Cuối năm 1933, Phạm Quang Lịch được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình đầu tiên. Ông không chỉ là người lãnh đạo, mà còn là người bạn, người thầy của dân nghèo. Nhưng rồi thực dân Pháp không thể làm ngơ. Chúng lùng sục, bắt bớ và cuối cùng, ông bị bắt trong một chuyến công tác. Bị đày ra nhà tù Sơn La – “địa ngục trần gian”, Phạm Quang Lịch vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản. Dù bệnh tật, đói rét, ông vẫn động viên anh em tù nhân: “Cách mạng có thể chậm lại, nhưng sẽ không bao giờ lùi bước.” Những lời ấy, nhiều người tù năm xưa vẫn nhớ mãi. Năm 1937, trong cơn bệnh nặng, ông trút hơi thở cuối cùng khi mới 36 tuổi. Nhưng tên tuổi và tinh thần của Phạm Quang Lịch thì không bao giờ mất đi. Ngôi nhà nhỏ của ông ở Nam Huân Trung sau này được công nhận là di tích lịch sử quốc gia, nơi lưu giữ dấu ấn của một người con Thái Bình đã dám sống và chết vì lý tưởng tự do. Câu chuyện về Phạm Quang Lịch không chỉ là câu chuyện của một người, mà là câu chuyện của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam, đã thắp sáng niềm tin và đặt nền móng cho cách mạng trên quê hương mình. Phạm Ngọc Diệp Sáng sớm, cánh đồng Thái Bình phủ sương trắng như tơ. Những giọt sương lấp lánh trên bông lúa trĩu vàng, phản chiếu ánh mặt trời đầu ngày. Mẹ Tựa – người đàn bà đã qua bao mùa gặt – chống cuốc, nhìn cánh đồng mà mắt ánh lên niềm vui lặng lẽ. Ngày còn trẻ, mẹ từng cùng cha đi đắp đê, đắp bằng chính đôi tay chai sạn và những tấm lòng son. Đê Diêm Hộ, đê Trà Lý... đều có dấu chân của người Thái Bình cần cù. Mỗi khi nước biển dâng, mẹ lại gánh đất, hát ru đồng bằng bằng tiếng gọi dân dã: “Đất quê ơi, đừng để sóng cuốn đi màu mỡ của chúng con.” Rồi chiến tranh ập đến. Cha ra trận, để lại mẹ một mình với đứa con còn đỏ hỏn. Hôm tiễn cha đi, mẹ đưa cho ông một nắm thóc khô, nói nhỏ: “Hạt lúa này là máu của đồng đất, anh mang theo để nhớ quê.” Ông đi mãi không về, chỉ còn lại lá thư úa vàng gửi từ chiến khu. Bao năm sau, hạt lúa ấy được mẹ đem gieo. Thật lạ, cây lúa trổ bông đầu tiên xanh hơn, dẻo hơn, thơm hơn cả ruộng. Mẹ bảo: “Ấy là hạt lúa cha mày gửi lại, hạt lúa nhớ đất mà nảy mầm.” Giờ đây, con trai mẹ – một kỹ sư nông nghiệp – đứng giữa cánh đồng công nghệ cao của quê hương, nhìn từng hạt giống mới nảy mầm trong kính nhà trồng. Anh chợt thấy trong gió có mùi hương lúa năm nào, có giọng hát của mẹ, và cả bóng dáng người cha không bao giờ trở lại. Hạt lúa của mẹ, hạt lúa của Thái Bình – dẫu qua bao thời gian, vẫn nuôi lớn con người bằng tình yêu, bằng mồ hôi, và bằng ký ức sâu thẳm của đất đai. Trần Minh Đức Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy. Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh. Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc. Lê Tiến Đạt Vào cuối thế kỷ XIII, khi quân Nguyên-Mông chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai, triều đình nhà Trần mở hội nghị Bình Than để bàn kế đánh giặc. Trong đám người đến dự, có một cậu thiếu niên mới 16 tuổi, tên là Trần Quốc Toản, con nhà quý tộc, mang trong lòng chí lớn cứu nước. Tuy còn nhỏ tuổi nên không được phép vào dự họp, Trần Quốc Toản tức giận đến mức bóp nát quả cam trong tay mà không hay biết. Từ giây phút ấy, lòng yêu nước trong cậu bùng cháy dữ dội. Trở về nhà, Trần Quốc Toản tự chiêu mộ hơn nghìn binh sĩ, thêu lên cờ sáu chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, đền ơn vua). Khi cuộc kháng chiến bùng nổ, đội quân của Trần Quốc Toản lập nhiều chiến công oanh liệt, góp phần đẩy lùi quân Nguyên xâm lược. Dù tuổi còn trẻ, cậu đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần tự lập của dân tộc Việt Nam. Đến nay, nhắc đến Trần Quốc Toản, người Việt Nam vẫn nhớ mãi hình ảnh thiếu niên nắm chặt quả cam, mang theo cả ý chí non sông. Bùi Hà Mai Anh "Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”, từ xa xưa đã là câu nói chắc nịch niềm tin thần thánh của người Việt về những giá trị tâm linh trên từng tấc thước nước non Tổ quốc mình. Những vị Thần Núi đã vượt cao lên trên nền cảnh ấy. Đấy là Đức Thánh Tản - Sơn Tinh ở ngọn Tổ Sơn, Ba Vì. Là Tây Thiên Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu trên đỉnh rặng Tam Đảo huyên kỳ… Vì là Thần Núi nên các vị đều có sức mạnh đa năng, nhưng chắc vững như đá núi mà trước hết là tài chiến trận. Nếu Sơn Tinh có thần lực đưa được các loài muông thú vào cuộc chống đánh thủy tai, thì Lăng Thị Tiêu lại huy động được cả mây núi và giông bão để cùng quân sĩ lâm trận… Một vị “Thần chiến tranh” hết sức đặc biệt tính Việt, là Phù Đổng Thiên Vương - Thánh Gióng: Vừa đánh được giặc bằng roi sắt trên mình ngựa sắt biết phun lửa, lại vừa nhổ được cả bụi tre rậm rạp, kềnh càng đầy gai nhọn mà quật quét, diệt sạch quân thù! Chuyển sang lĩnh vực làm ăn sinh sống trên các miền đất nước Việt Cổ thì nếu ở miền ven biển Nga Sơn, Thanh Hóa bây giờ - nhưng xưa kia là biển đảo đấy - có Mai An Tiêm, thì ở vùng đầm nước Dạ Trạch (Hưng Yên ngày nay) hình thành từ một vụ ngập lụt sụt lở cát đất lớn ngày xưa, cũng có Chử Đồng Tử…Nếu Mai An Tiêm được coi là một thần sáng tạo và Tổ nghiệp nghề của việc trồng trọt những quả dưa hấu thắm đỏ và mát ngọt từ số phận phải từ dân biệt xứ, thì Chử Đồng Tử từ nhân thân nghèo đói chỉ một manh khố che thân lại trở thành chủ nhân giàu có của cả một tòa đô thị trù phú, nhờ tài giao thương mà trở thành Tổ nghề buôn bán lắm lợi lộc… Tạ Thị Khánh Huyền Vào thế kỷ XIII, quân Nguyên-Mông xâm lược Đại Việt. Trần Hưng Đạo, một vị tướng tài ba, đã lãnh đạo quân dân đánh bại kẻ thù trong ba cuộc chiến lớn. Trận Bạch Đằng năm 1288 là chiến công vĩ đại nhất của ông. Dùng chiến thuật thông minh, Trần Hưng Đạo cho đào sông và tạo thành bẫy, khiến quân Mông Cổ mắc kẹt. Khi quân địch tưởng rằng đã thắng, ông chỉ huy một cuộc tấn công mạnh mẽ, tiêu diệt phần lớn quân Nguyên. Trận thắng này giúp cứu nước và khẳng định tên tuổi của Trần Hưng Đạo như một anh hùng dân tộc. Dù nổi tiếng, ông sống rất giản dị, luôn nhắc nhở con cháu giữ vững lòng trung thành với tổ quốc. Đỗ Thị Ngọc Huyền Sự kiện dời đô vào năm 1010 dưới thời vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) không chỉ là một quyết định hành chính mà còn là một bước ngoặt vĩ đại, định hình vận mệnh của dân tộc Việt Nam suốt ngàn năm. Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ nhận ra kinh đô Hoa Lư đã hoàn thành sứ mệnh giữ nước trong buổi đầu độc lập, nhưng lại quá chật hẹp, khó phát triển kinh tế và giao thương. Với tầm nhìn xa trông rộng, ông đã ban hành Chiếu Dời Đô, khẳng định cần một nơi đất đai rộng rãi, bằng phẳng, có địa thế "rồng cuộn hổ ngồi" để muôn đời phát triển. Vùng đất được chọn chính là Đại La, nơi hội tụ linh khí, có sông Hồng bao bọc, thuận tiện cho giao thông thủy bộ. Khi thuyền rồng của nhà vua dừng lại, tương truyền rồng vàng bay lên, báo hiệu điềm lành. Vua Lý Thái Tổ quyết định đổi tên Đại La thành Thăng Long (Rồng Bay Lên), thể hiện khát vọng mãnh liệt về một đất nước cường thịnh, bay cao như rồng. Quyết định dời đô đã mở ra kỷ nguyên Đại Việt phát triển rực rỡ, đưa Thăng Long trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, và văn hóa phồn thịnh. Cho đến ngày nay, Thăng Long – Hà Nội vẫn là trái tim của đất nước, minh chứng cho tầm nhìn chiến lược và khát vọng vươn lên của Lý Thái Tổ. Tô Hồng Nhung Ở giữa quê hương lúa Thái Bình thân thương, mảnh đất có truyền thống yêu nước và cách mạng bao la đã từng sinh ra một con người là biểu tượng cao đẹp của lòng thương nước thương dân, có công với cách mạng, là niềm tự hào không thể không nói đến của nhân dân đất Thái Bình bấy giờ - Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Nguyễn Đức Cảnh sinh ngày 2 tháng hai năm 1908 tại làng Diêm Điền, tỉnh Thái Bình trong một gia đình Nho nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã sớm nhận thức được tinh thần yêu nước qua tấm gương của cha mình, Cử nhân Nguyễn Đức Tiết, người từ chối con đường làm quan để dạy học và thâm gia Kháng chiến Pháp. Lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ của thực dân Pháp, Nguyễn Đức Cảnh sớm nhận ra được nỗi thống khổ của nhân dân và khát vọng cháy bỏng về một ngày non sông được độc lập, hòa bình. Khi còn là học sinh Trường Thành chung Nam Định, Nguyễn Đức Cảnh đã tích cực tham gia hoạt động yêu nước như đòi thả Phan Bội Châu,... Những hành động này đã dẫn đến việc ông bị đuổi học nhưng đây cũng là bước ngoặt lớn thôi thúc ông tìm đến con đường cách mạng chân chính. Cuối năm 1926, ông bắt đầu tiếp tục với cách mạng của nhóm Nam Đồng thư xã, rồi tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng. Bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Nguyễn Đức Cảnh chính là chuyến đi Trung Quốc vào mùa thu năm 1927. Tại đây, ông đã tham dự lớp huấn luyện chính trị do Tổng bộ Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội mở. Qua quá trình học tậo và nghiên cứu, ông nhận thấy cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng, là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc. Ông và Lý Hồng Nhật dã dứt khoát li khai Việt Nam Quốc dân Đảng, tự nguyện gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đánh dấu sự chuyển biến quan trọng từ lập trường dân tộc sang lập trường cộng sản. Trở về nước, Nguyễn Đức Cảnh được cử làm Bí thư Tỉnh bộ Hải Phòng, rồi Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ và Bí thư Khu bộ Hải Phòng. Ông tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tổ chức hội bí mật và lãnh đạo công nhân đấu tranh. Đặc biệt, ông là một trong những người dề xuất chủ trương “vô sản hóa”-một biện pháp quan trọng để thâm nhập vào phong trào công nhân, truyền bá lí luận cách mạng và xây dựng tổ chức Đảng. Năm 1929, trước yêu cầu của tình hình cách mạng, Nguyễn Đức Cảnh cùng các đồng chí khác đã tham gia thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại Việt Nam, và sau đó là Đông Dương Cộng sản Đảng. Ông được làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng. Ông đã tích cực chuẩn bị và tổ chức Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28 tháng 7 năm 1929, trực tiếp làm Hội trưởng lâm thời. Đây là tổ chức công đoàn đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam, tiền nhân của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ngày nay. Đầu năm 1930, Nguyễn Đức Cảnh đại diện Đông Dương Cộng sản Đảng tham dự Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chủ trì của vị lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Ông là một trong những người sáng lập Đảng, đóng góp quan trọng vào sự ra đời của một chính Đảng Mác-Lênin chân chính. Sau khi Đảng ra đời, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, rồi tăng cường cho Cứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách công tác tuyên huấn, trực tiếp tham gia chỉ đạo phông trài Xô Viết Nghệ Tĩnh. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Đức Cảnh tuy ngắn ngủi nhưng vô cùng oanh liệt. Ông bị thực dân Pháp bắt giữ vào tháng 4 năm 1931 và bị kết án tử hình. Dù đói mặt với cái chết, ông vẫn giữ vững khí tiết kiên cường, khẳng định tuyên bố:” Đánh đuổi quân cướp nước, giành độc lập cho Tổ quốc, mưu cầu hạn phúc cho Nhân dân Việt Nam là không có tội. Đã không có tội cần gì ân xá”.Sáng ngày 31 tháng 7 năm 1934, ông đã hi sinh anh dũng tại Hải Phòng khi mới chỉ 24 tuổi. Sự hi sinh của ông là một mất mát to lớn của cách mạng Việt Nam, nhưng tinh thần bất khuất và cồng hiến của ông mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo, là niềm tự hào của dân tộc Việt nói chung và Thái Bình nói riêng. Nguyễn Đức Cảnh chính là một nhà cách mạng lỗi lạc, kiên trung, là biểu tượng của tuổi trẻ Việt Nam anh hùng. Cuộc đời và sự nghiệp của ông chính là minh chứng sống động cho lòng yêu nước, tinh thần hy sinh quên mình vì độc lập, tự do của dân tộc. Tên tuổi và những cống hiến của ông đã được khắc ghi trên những con đường, trường học và đặc biệt là trong trái tim con người Thái Bình, Việt Nam. Chúng ta-thế hệ hôm nay, hãy nguyện học tập theo tấm gương đạo đức trong sáng, phẩm chất kiên trung, bất khuất của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, tiếp tục cống hiến sức mình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày cành giàu mạnh, văn minh. Hoàng Gia Khánh Trên bến sông Bạch Đằng mịt mù sương khói, tiếng trống trận vang vọng giữa bầu trời tháng Ba năm 1288. Những chiến thuyền gỗ của quân Nguyên Mông, hùng mạnh và kiêu ngạo, đang tiến vào cửa sông, không hay biết rằng cái chết đang chờ đợi họ dưới làn nước xanh. Trên một chiếc thuyền lớn, Trần Hưng Đạo – người tướng tóc bạc nhưng ánh mắt sáng như lửa – đứng sừng sững, tay cầm thanh kiếm chỉ về phía trước. Ông hô lớn: “Vì nước quên thân, vì dân mà đánh giặc! Hôm nay sông Bạch Đằng sẽ lại ghi chiến công của người Đại Việt!” Theo hiệu lệnh, hàng ngàn cọc gỗ bịt sắt đã được cắm ngầm dưới lòng sông, sẵn sàng đón quân thù. Khi thủy triều rút, chiến thuyền giặc mắc cạn, va vào những cọc nhọn, lửa từ cung nỏ và dầu cháy bùng lên thiêu rụi tất cả. Tiếng reo hò “Sát Thát!” vang dậy khắp dòng sông. Giữa khói lửa, Trần Hưng Đạo vẫn bình tĩnh chỉ huy, từng bước dồn quân giặc vào chỗ chết. Trận thắng ấy đã kết thúc mộng xâm lăng của đế chế Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Sau chiến thắng, ông không nhận công danh hay của cải. Khi được vua ban thưởng, ông chỉ nói: “Thần nguyện hết lòng vì xã tắc, đâu dám nhận riêng cho mình.” Trần Hưng Đạo trở về làng, sống giản dị và để lại cho đời sau Hịch tướng sĩ – áng văn bất hủ hun đúc lòng yêu nước, khơi dậy tinh thần chiến đấu của bao dân tộc. Tô Phương Linh Thuở xưa vào đời vua Hùng thứ 17 có một chàng trai khôi ngô tháo vát nhanh nhẹn nên được nhà vua nhận làm con nuôi đặt tên là Mai Yển ( hiệu An Tiêm) và thường được vua ban cho nhiều của ngon vật lạ. Trong một buổi thiết yến An Tiêm đã thẳng thắn nói:”Của được biếu là của phải lo, của được cho là của phải nợ.”Chàng cho rằng những thứ chàng có được đều do bàn tay chàng làm ra chứ không phụ thuộc vào ai cả Lời này truyền đến tai vua khiến vua cha rất tức giận, cho rằng An Tiêm là kẻ kiêu bạc vô ơn và ra lệnh đày vợ chồng Mai An Tiêm ra đảo hoang để xem, trông vào hai bàn tay của chàng thì chàng có sống nổi không. Cả gia đình của Mai An Tiêm bị đày ra hòn đảo ngoài biển Nga Sơn (Thanh Hoá). Tuy bị đày ra hoang đảo nhưng An Tiêm vẫn rất mạnh mẽ an ủi vợ con của mình:”Trời đã sinh ra ta, sống chết là ở Trời và ở ta, việc gì phải lo” Đây là hòn đảo hoang vu và không có người nên cả gia đình An Tiêm phải tự dùng sức lao động của mình để kiếm miếng ăn. Hằng ngày chàng đi khắp hòn đảo để kiếm rau rừng, quả dại về ăn và trồng trọt xung quanh nơi ở của mình. Vợ chàng, nàng Ba ra biển mò ngao bắt ốc, đứa con lớn cùng chàng thường đặt bẫy săn bắn chim thú trên đảo, nhờ vào đức tính siêng năng cần cù mà cả gia đình tuy khốn khó nhưng vẫn có miếng ăn sống qua ngày. Một hôm đang đi xung quanh tìm rau rừng chàng liền bắt gặp một con chim đang ăn một loại quả lạ có màu đỏ, thấy chàng lại gần chim bị hoảng sợ liền bay đi. Chàng nghĩ:”Chim ăn được thì chắc người cũng sẽ ăn được” . Sau đó chàng nếm thử thì thấy mùi vị thơm và ngon ngọt, tươi mát.An Tiềm liền cầm hạt về nhà bảo vợ và hai vợ chồng cùng nhau gieo hạt khắp nơi. Giống cây này rất dễ trồng chỉ ít lâu sau đã nảy mầm, mọc dây lá lan rộng xung quanh. Chẳng bao lâu sau vườn dưa ngày càng sai trái, vỏ ngoài mỏng dần và thịt dưa ngày càng đỏ và ngọt hơn. An Tiêm thường khắc chữ lên dưa và thả trôi trên biển với hy vọng có thuyền buôn nào vớt được sẽ đổi được thức ăn và gạo cho gia đình. An Tiêm thường khắc chữ lên dưa An Tiêm thường khắc chữ lên dưa Nhờ loại quả mới ngọt mát mà tiếng lành đồn xa, nên rất nhiều thuyền buôn ghé tới muốn mua dưa mang vào đất liền, từ đó cả gia đình An Tiêm đã có thêm thức ăn và đồ dùng, cuộc sống khấm khá hơn. Vì chim đã mang hạt từ phương Tây đến nơi này nên chàng đặt tên loại quả này là Tây Qua, về sau người tàu ăn thấy ngon nên khen “hảo” từ đó có tên là dưa hấu. Rất nhiều thuyền buôn ghé tới muốn mua dưa mang vào đất liền Rất nhiều thuyền buôn ghé tới muốn mua dưa mang vào đất liền Vào lúc này, trong đất liền vua Hùng được một thị thần dâng cho quả lạ, khi ăn rất ngọt mát nên bèn hỏi xuất xứ. Khi biết được loại quả này là của An Tiêm trồng ngoài đảo thì lúc này vua biết mình đã sai nên cho người đón vợ chồng An Tiêm trở lại đất liền. Khi trở lại vợ chồng An Tiêm mang theo rất nhiều hạt giống về phân phát cho bà con và truyền dạy cách gieo trồng, chăm bón. Từ đó trên khắp nước ta đều có dưa hấu và trở thành một loại quả quen thuộc đối với người dân. Ngày nay người ta vẫn thường bảo nhau rằng chỉ có huyện Nga Sơn là trồng dưa hấu ngon hơn cả là vì sau nghìn năm bồi cát, hòn đảo Mai An Tiêm năm ấy đã liền vào với đất. Đào Khánh Ly Phạm Ngũ Lão là một vị tướng tài ba của triều Trần, quê ở làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người chăm chỉ, thông minh và có chí lớn. Một lần, khi đang ngồi đan sọt bên đường, ông mải suy nghĩ về phép dụng binh đến mức bị đâm vào đùi mà vẫn không hay biết. Thái úy Trần Hưng Đạo đi qua, thấy vậy liền cảm phục và đưa ông về doanh trại, sau đó tiến cử vào quân đội. Nhờ tài năng và lòng dũng cảm, Phạm Ngũ Lão lập nhiều chiến công trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Ông được vua Trần trọng thưởng và nhân dân hết lòng kính phục. Dù được vinh hiển, ông vẫn sống giản dị, khiêm nhường, hết lòng vì nước, vì dân. Bài thơ “Thuật hoài” của ông đã thể hiện rõ chí khí của người anh hùng luôn mang nặng nợ công danh với non sông đất nước. Tên tuổi Phạm Ngũ Lão mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử dân tộc và trở thành niềm tự hào của người dân Hưng Yên. Hoàng Lan Chùa Hiến toạ lạc tại đường Phố Hiến, phường Hồng Châu, thị xã Hưng Yên. Tương truyền chùa được xây dựng từ đời vua Trần Thái Tông (1232 – 1250), do Tô Hiến Thành, quan đại thần nhà lý xây dựng. Chùa được trùng tu vào năm 1625 và năm 1709. Chùa Hiến có bố cục kiểu “nội công, ngoại quốc” gồm tiền đường, thiên hương, thượng điện và 3 mặt là hành lang. Giữa thượng điện là tượng Quân Âm Nam Hải, phía trước là tượng tứ vị bồ tát. Các pho tượng này đều có niên đại thế kỷ XIX. Nhìn chung, đây là di tích không thật đặc sắc về kiến trúc so với các di tích cùng loại hình đương thời. Nhưng giá trị của ngôi chùa này chính là 02 tấm bia đá ở phía trước sân chùa. Một tấm bia “Thiên ứng tự - Tân tự trùng tu thạch bi ký” niên đại Vĩnh Tộ thứ 7 (năm 1625) ghi việc ưng công tu sửa chùa và tấm bia ghi nhận “Phố Hiến Nam nổi tiếng là nơi đô hội tiểu Tràng An của bốn phương”. Qua đó, chúng ta có thể hình dung được Phố Hiến là nơi hội tụ của cư dân bốn phương về giao lưu, buôn bán. Phía trước chùa Hiến còn có cây nhãn tổ, tên gọi là cây nhãn Tiến. Đây là cây nhãn đường phèn, mã lụa, quả to, cùi dày, có hương vị thơm ngon đặc sắc nhất. Thân cây chính đã già cỗi, chỉ còn một nhánh được đắp vun gốc, chăm sóc phát triển thành cây hậu duệ, biểu tượng của giống nhãn lồng đặc sản Phố Hiến – Hưng Yên. Phạm Đăng Dương Trong dòng chảy lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có biết bao câu chuyện hào hùng đã trở thành huyền thoại, khắc sâu vào tâm trí mỗi thế hệ người Việt. Một trong những trang sử vàng chói lọi và ý nghĩa nhất phải kể đến là chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng vào năm 938, dưới sự chỉ huy tài ba của vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền. Đây không chỉ là một trận thủy chiến lừng danh mà còn là bản tuyên ngôn độc lập, chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ kéo dài hàng nghìn năm của phong kiến phương Bắc. Bối cảnh lịch sử thời điểm ấy vô cùng rối ren. Sau khi vị Tiết độ sứ người Việt là Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại để đoạt quyền, nhà Nam Hán nhân cơ hội đó, lấy cớ trả thù cho Dương Đình Nghệ (thực chất là âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa), đã cử thái tử Lưu Hoằng Tháo chỉ huy một đoàn chiến thuyền lớn tiến vào bờ cõi. Tình thế nước nhà như ngàn cân treo sợi tóc. Lúc này, Ngô Quyền, một vị tướng tài ba, cháu rể của Dương Đình Nghệ, đã nhanh chóng tập hợp lực lượng, tiêu diệt Kiều Công Tiễn và chuẩn bị thế trận đón đánh quân thù. Nhận thấy lợi thế về thủy quân của địch, Ngô Quyền đã đưa ra một kế sách vô cùng độc đáo và sáng tạo. Ông không chọn cách đối đầu trực diện mà quyết định biến dòng sông Bạch Đằng hung dữ thành mồ chôn giặc. Kế hoạch của Ngô Quyền là sử dụng hàng ngàn cọc gỗ lim vót nhọn, bịt sắt ở đầu, đóng sâu xuống lòng sông ở những nơi hiểm yếu, gần cửa biển. Ông tính toán kỹ lưỡng con nước thủy triều. Khi nước lớn, bãi cọc chìm dưới mặt nước; khi nước rút, bãi cọc sẽ nhô lên, trở thành một chướng ngại vật chết người. Quả nhiên, khi đoàn thuyền chiến lớn mạnh của Lưu Hoằng Tháo tiến vào cửa sông, Ngô Quyền đã sai một toán quân nhẹ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy. Quân Nam Hán với khí thế hừng hực, không chút nghi ngờ, dốc toàn lực đuổi theo, lọt sâu vào trận địa cọc ngầm đã được bố trí sẵn. Khi thủy triều bắt đầu rút mạnh, Ngô Quyền phát 8lệnh tổng tấn công. Từ hai bên bờ sông, quân ta với thuyền nhỏ linh hoạt ập ra đánh úp. Cùng lúc đó, nước sông cạn dần, những chiếc thuyền lớn của giặc bị mắc kẹt vào bãi cọc, không thể tiến thoái. Trong tình thế hoảng loạn, quân Nam Hán bị tấn công dữ dội. Thái tử Lưu Hoằng Tháo tử trận, quá nửa chiến thuyền bị phá hủy. Quân giặc đại bại, tháo chạy tán loạn. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã đi vào lịch sử dân tộc như một khúc ca khải hoàn rực rỡ, khẳng định nền độc lập, tự chủ vững chắc của đất nước. Nó thể hiện tài năng quân sự kiệt xuất, tầm nhìn xa trông rộng của Ngô Quyền, người được mệnh danh là "vị tổ trung hưng" của dân tộc. Bài học về sự mưu trí, biết tận dụng thiên thời địa lợi, và sức mạnh đoàn kết toàn dân của ông vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Câu chuyện lịch sử này nhắc nhở mỗi người con đất Việt về cội nguồn anh hùng, về trách nhiệm gìn giữ và phát huy truyền thống yêu nước, bảo vệ giang sơn gấm vóc mà cha ông đã phải đổ biết bao xương máu mới giành được. Tiếng vọng Bạch Đằng Giang mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam Phùng Nguyễn Tâm Phúc Tháng 5 năm 1954, giữa thung lũng Điện Biên Phủ mịt mù khói súng, đại đội trưởng Tô Vĩnh Diện chỉ huy khẩu pháo vượt đèo. Con dốc dựng đứng, bánh pháo trượt, có thể lao xuống vực bất cứ lúc nào. Không kịp nghĩ cho mình, anh lao người vào bánh pháo, ghì chặt, giữ cho khẩu pháo đứng vững. Anh hy sinh, khẩu pháo được cứu, tiếp tục nã đạn vào cứ điểm địch. Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Cát. Trong mỗi chiến công, có những con người lặng thầm như Tô Vĩnh Diện – lấy máu mình đổi lấy độc lập cho Tổ quốc. Nguyễn Hoàng Anh 1) Giới thiệu chung - Tên gọi: Ngô Quyền - Thời đại: Cuối thế kỉ IX – đầu thế kỉ X, thời kỳ nhà nước Đại Cồ Việt hình thành sau cuộc khởi nghĩa và nắm quyền của Ngô Quyền. - Xuất thân: Quanh cảnh sinh sống và quê quán truyền thông khác nhau trong sử sách, nhưng Ngô Quyền được khắc họa là một vị tướng quân tài năng, có công mở nước và bảo vệ đất nước khỏi nội loạn và xâm lược. 2) Sự nghiệp và đóng góp nổi bật - Vai trò quân sự và lãnh đạo: - Dưới ngòi bút sử học, Ngô Quyền là người lãnh đạo lực lượng chống lại quân Nam Hán xâm lược và giành được thắng lợi quyết định. - Ông nổi tiếng với chiến thắng Biên Giới và đặc biệt là trận đánh tại Phả Lại – Biện Giang (theo nhiều ghi nhận dân gian và sử liệu) có ý nghĩa then chốt trong công cuộc thống nhất và củng cố độc lập của nước ta. - Sự kiện đánh dấu khai sinh nước Việt tự chủ: - Sau khi đánh bại Nam Hán năm 938, Ngô Quyền được xem là người mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho đất nước Việt Nam, chấm dứt sự đô hộ ngắn hạn và thiết lập nền móng cho nhà nước phong kiến tự quản. - Chính sách và tổ chức đất nước: - Ông được kính trọng không chỉ vì chiến công mà còn vì những bước đi nhằm xây dựng bộ máy nhà nước và hệ thống pháp lý đầu tiên của Đại Cồ Việt, đặt nền móng cho sự phát triển sau này. 3) Đóng góp về tư tưởng và văn hóa - Tinh thần độc lập và đoàn kết dân tộc: Ngô Quyền được xem là biểu tượng của ý chí tự chủ và đoàn kết toàn dân chống xâm lược. - Lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược: Không chỉ dừng lại ở chiến thắng quân sự, ông còn hướng tới ổn định chính trị, củng cố quân đội và khôi phục trật tự đất nước. - Hình tượng lịch sử và di sản: Ngô Quyền trở thành hình tượng anh hùng dân tộc được ca ngợi trong sách sử, văn học và truyền thuyết dân gian. 4) Sự kiện lịch sử liên quan - Cuộc khởi nghĩa và đánh bại quân Nam Hán (khoảng cuối thế kỉ IX – 938): Đánh dấu sự chấm dứt sự đô hộ của Nam Hán và sự bắt đầu của quốc gia độc lập Đại Cồ Việt. - Thiết lập nền móng cho nhà nước độc lập và sự hình thành cấp quản trị đầu tiên của vùng đất kể từ thời kỳ hậu Lê sơ. 5) Di sản và ảnh hưởng - Đóng góp vào việc hình thành nền độc lập tự chủ của Việt Nam, là nền tảng cho sự phát triển của một hệ thống quản trị trung ương và địa phương sau này. - Hình tượng Ngô Quyền được tôn vinh trong sách sử, văn học và nghệ thuật như một người anh hùng dân tộc có tầm vóc lịch sử lớn. - Có ảnh hưởng tới nhận thức về quân sự, chiến lược và quản lý nhà nước thời kỳ đầu của Việt Nam. 6) Ghi chú và tham khảo - Có nhiều phiên bản và diễn giải khác nhau về đời sống và chi tiết sự nghiệp của Ngô Quyền trong các nguồn sử học khác nhau (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt sử ký toàn thư, các ghi chép ngạn ngữ và sử liệu cổ khác). - Khi thuyết trình, có thể trích dẫn các sự kiện và câu chuyện liên quan đến chiến lược và tầm nhìn của Ngô Quyền để minh họa sự nhạy bén quân sự và khả năng tổ chức đất nước. Gợi ý cách trình bày ngắn gọn (kế hoạch 5–7 phút) - Mở bài: Giới thiệu Ngô Quyền như một biểu tượng của sự độc lập và khởi đầu một thời kỳ mới của Việt Nam. - Thân bài: - Phần 1: Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ IX và sự tồn tại của Nam–Văn lẫn nội bộ đất nước. - Phần 2: Các chiến công và chiến lược (những trận đánh và kết quả quân sự quan trọng). - Phần 3: Tác động về mặt chính trị và xã hội sau khi chiến thắng. - Phần 4: Di sản và ảnh hưởng lâu dài đến lịch sử Việt Nam. - Kết bài: Nhấn mạnh Ngô Quyền như người đặt nền móng cho nền độc lập và khẳng định ý chí tự chủ của dân tộc. Nguyễn Hương Giang Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, câu chuyện về Hai Bà Trưng luôn là nguồn cảm hứng bất tận về lòng yêu nước và tinh thần quật cường. Vào thế kỉ thứ nhất, khi đât nước bị ách đô hộ tàn bạo của nhà Đồng Hán, nhân dân lầm than, hai nữ kiệt Trưng Trắc và Trưng Nhị đã không cam chịu cảnh nô lệ. Họ đã đứng lên chiêu mộ binh sĩ, tập hợp lực lượng, truyền cảm hứng cho toàn dân cùng đứng dậy khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo tài ba của Hai Bà nghĩa quân đã nhanh chóng giành thắng lợi vang dội, đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập cho đất nước chỉ trong một thời gian ngắn. Câu chuyện về Hai Bà Trưng không chỉ thể hiện ý chí kiên cường, lòng dũng cảm phi thường mà còn khẳng định vai trò và sức mạnh của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng và giữ nước Đào Khánh Thi Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ. Thần giúp nhân dân diệt trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh là những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở. Xong việc, thần thường về thủy cung với mẹ, khi có việc cần, thần mới hiện lên. Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần, nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, bèn tìm đến thăm. Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu thương, rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Tráng. Ít lâu sau, Âu Cơ có mang, đến kỳ sinh nở, chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng nở ra một trăm con trai, con nào con ấy hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần. Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở nước, cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được, đành từ biệt Âu Cơ và đàn con để trở về thủy cung với mẹ. Âu Cơ ở lại một mình nuôi đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở. Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ? Lạc Long Quân nói: Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.Âu Cơ và trăm con nghe theo, rồi cùng nhau chia tay nhau lên đường.Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ, con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mị nương, khi cha chết thì được truyền ngôi cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối ngôi vua đều lấy danh hiệu Hùng Vương, không hề thay đổi. Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta con cháu vua Hùng, thường nhắc đến nguồn gốc của mình là con Rồng, cháu Tiên Phạm Thị Yến Vua Hùng thứ mười tám có một người con gái yêu rất xinh đẹp tên là Mị Nương. Vua cha muốn kén cho nàng một người chồng xứng đáng. Một hôm, có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người là Sơn Tinh, chúa miền non cao, tài giỏi khác thường. Một người là Thủy Tinh, chúa vùng nước thẳm, tài giỏi cũng không kém. Để chọn lựa, vua nói: - Hai người đều tài giỏi nhưng ta chỉ có một người con gái. Ngày mai ai đem lễ vật đến trước sẽ được rước dâu về. Lễ vật gồm: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đem lễ vậy đến trước và được đón Mị Nương về núi. Thủy Tinh đến sau, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo hòng cướp lại Mị Nương. Thủy Tinh hô mưa gọi gió, làm thành dông bão, sấm sét rung chuyển cả đất trời. Nước dâng trắng xóa, cuốn trôi nhà cửa, thóc lúa,... Sơn Tinh không hề nao núng. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi núi mọc cao lên bấy nhiêu. Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về. Từ đó, năm nào Thủy Tinh cũng làm mưa làm gió đánh Sơn Tinh gây nên cảnh lụt lội khắp vùng đồng bằng trung du nước ta. Nhưng lần nào, Thủy Tinh cũng thua. Hoàng Quốc Anh Khi nói đến gương anh hùng liệt nữ, đến truyền thống đấu tranh chống quân xâm lược, người Việt Nam qua nhiều thời đại thường không quên nhắc đến cái tên Bà Triệu. Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại vùng núi Quân Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc làng Quan Yên, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Sinh ra trong một gia đình hào trưởng, từ nhỏ bà đã bộc lộ khí chất hơn người. Truyền thuyết kể rằng, có lần xuất hiện một con voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm. Bà Triệu đã dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng xuống huyệt làm con voi lạ gục đầu xin quy thuận. Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng, Bà Triệu bỏ nhà vào núi xây dựng cǎn cứ, chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Khi anh trai nhắn về nhà lấy chồng, bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình: “Em chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập khỏi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta”. Cuộc khởi nghĩa của Bà và anh trai Triệu Quốc Đạt nổ ra năm 248 và được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, nhanh chóng lan tỏa ra quận Giao Chỉ. Khi Triệu Quốc Đạt tử trận, Bà Triệu lãnh đạo toàn bộ quân khởi nghĩa, chiến đấu chống quân Ngô. Nhà Ngô thêm 8 ngàn quân sang đàn áp phong trào khởi nghĩa. Tình hình nguy cấp, thế giặc mạnh, chúng lại tìm mọi cách mua chuộc nên quân ta nhiều kẻ bỏ trốn, đầu hàng quân địch. Quân Ngô hơn hẳn quân khởi nghĩa về mặt tổ chức và vũ khí, quân khởi nghĩa suy yếu dần và tan vỡ. Lực lượng nghĩa quân còn non trẻ, không đủ sức chống lại đạo quân lớn hơn mình gấp bội. “Dù chúng ta đã cố gắng, nhưng thế giặc đã quá mạnh, ta cũng lực bất tòng tâm, mọi người hãy về quê nhà đợi thời cơ gặp thủ lĩnh giỏi thì hãy theo họ chống giặc”. Sau một cuộc bao vây ráo riết của quân giặc, Bà Triệu lui về núi Tùng. Bà quì xuống vái trời đất: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn, đó là ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn 248. Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy thất bại nhưng đã để lại vết son chói ngời trong lịch sử dân tộc ta. Đến nay câu chuyện về Bà Triệu vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Lǎng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá, là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia, là bằng chứng về niềm tự hào một người phụ nữ liệt oanh của dân tộc Việt Nam. Trần Tuấn Anh Thuở xưa, nước ta bị quân Hán đô hộ. Chúng rất tàn ác, hà hiếp nhân dân ta và ra sức vơ vét của cải. Bấy giờ ở huyện Mê Linh có hai người con gái tài giỏi: chị là Trưng Trắc và em là Trưng Nhị. Cả hai bà đều giỏi võ nghệ và nuôi chí giành lại non sông. Trưng Trắc có chồng là Thi Sách. Thi Sách là Lạc tướng cũng cùng chí hướng với vợ. Tướng giặc là Tô Định làm thứ sử Giao Châu thời ấy biết được bèn lập mưu giết chết Thi Sách. Nợ nước, thù nhà, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Quân của hai bà đi đến đâu, giặc tan đến đó. Với đoàn quân khởi nghĩa hừng hực khí thế chiến đấu và chiến thắng, Hai Bà tiến về giải phóng thành Luy Lâu. Tướng giặc Tô Định tháo chạy về nước. Hai Bà lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương. Năm 43, quân giặc cử Mã Viện, đại tướng lão luyện đốc quân đàn áp cuộc khởi nghĩa. Hai Bà lãnh đạo quân ta chiến đấu anh dũng nhưng vì thế giặc quá mạnh, yếu thế, Hai Bà nhảy xuống sông Hát Giang tuẫn tiết. Dân ta lại chìm trong vòng áp bức của giặc phương Bắc. Dù vậy, tấm gương oanh liệt của Hai Bà Trưng vẫn ngời sáng nghìn thu. Hoàng Anh Minh Ngày xưa, giặc Minh sang xâm lược nước ta. Chúng đốt nhà, cướp của, giết người khiến nhân dân ta vô cùng khổ cực. Thửa ấy, ở nước ta có ông Lê Lợi, thấy giặc Minh sang cướp nước ta, lại giết hại cả nhân dân ta thì vô cùng căm giận, bèn đứng lên chiêu mộ binh sĩ để đánh đuổi chúng. Năm ấy, sau một trận đánh lớn, Lê Lợi đem quân về trú tại một làng nhỏ ở ven sông. Nhân lúc rỗi rãi, mấy người lính của Lê Lợi rủ nhau đi đánh cá ở một khúc sông sâu. Vừa thả một lúc, họ thấy mặt nước xao động. Đoán là có cá to mắc lưới, họ liền kéo lưới lên thì thấy trong lưới có một thanh gươm chuôi nạm ngọc rất đẹp. Một người lính lên tiếng: -Không biết thanh gươm qúi này là của ai nhỉ ? Người lính vừa dứt lời thì có tiếng nói ở dưới sông vọng lên: -Thanh gươm đó là của ta.Ta cho Lê Lợi mượn để giết giặc Minh. Các ngươi hãy mang thanh gươm đó về dâng cho Lê Lợi. Nghe thấy tiếng nói lạ, mấy người lính sợ hãi nhìn nhau. Người lính lớn tuổi nhất hỏi: -Nhưng ngươi là ai ? Xin cho chúng tôi biết để chúng tôi còn về thưa lại với chủ tướng Lê Lợi. Giọng nói lúc nãy lại từ mặt sông vọng lên, lần này rành rọt hơn: -Ta là Long Quân. Lưỡi gươm ấy là gươm thần, ta cho Lê Lợi mượn để giết giặc Minh. Các ngươi hãy mang thanh gươm đó về dâng cho Lê Lợi. Từ khi có thanh gươm thần, nghĩa quân Lê Lợi càng đánh càng mạnh, giặc Minh thua chạy tơi bời. Nhiều trận, quân giặc chết như rạ. Về sau, giặc Minh sợ quá, cả tướng lẫn quân phải kéo nhau ra xin đầu hàng. Nghĩa quân Lê Lợi đại thắng, Lê Lợi lên ngôi vua, nhân dân ta được sống thanh bình, yên vui. Một năm sau, nhân ngày trời trong gió mát. Lê Lợi cùng các quan đi thuyền dạo chơi trên hồ Tả Vọng. Khi thuyền nhà vua vừa đến giữa hồ thì bỗng có một con rùa vàng rất to từ dưới nước nhô lên, hướng về phía thuyền nhà vua. Rùa vàng gật đầu ba cái chào vua Lê Lợi rồi nói: -Xin nhà vua trả gươm cho Long quân Thoạt nghe Rùa vàng đòi gươm, Lê Lợi rất ngạc nhiên, nhưng sau nhớ lại thanh gươm mấy người lính đã dâng cho mình dạo nọ, Lê Lợi mới hiểu ra. Ông liền rút thanh gươm đeo bên mình ra khỏi vỏ. Thì lạ thay thanh gươm rời khỏi tay nhà vua, bay vụt về phía Rùa vàng. Nhanh như cắt Rùa vàng há miệng đớp lấy thanh gươm, gật đầu chào vua Lê Lợi rồi lặn xuống nước. Từ đó, để tỏ lòng ghi nhớ công ơn của Long Quân đã cho mình mượn gươm thần giết giặc, Lê Lợi bèn đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Hoàn Kiếm. Hoàn Kiếm nghĩa là trả lại gươm. Hồ này còn được gọi là Hồ Gươm. Nguyễn Minh Hoàng Kim Đồng (1929 – 1943) tên thật là Nông Văn Dền, một thiếu niên người dân tộc Nùng, ở xóm Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Sinh ra trên mảnh đất cách mạng nên trong gia đình Dền sớm đã có người tham gia các đoàn thể. Dền là con trai út của một gia đình nông dân nghèo, cha không may mất sớm, mẹ thường xuyên đau ốm, các chị gái đều đã lập gia đình, em gái thì còn nhỏ. Người anh trai là Nông Văn Tằng (bí danh là Phục Quốc) sớm tham gia cách mạng, là đội viên giải phóng quân. Để anh Phục Quốc có điều kiện hoạt động cách mạng, từ năm 12 tuổi Dền đã thay anh đi làm phu và gánh vác nhiều công việc gia đình.Từ năm 1940, tại khu vực Trường Hà, Hà Quảng đã có phong trào cách mạng. Dền được anh trai và anh cán bộ Đức Thanh giác ngộ theo các anh làm các công việc: canh gác, chuyển thư từ, nghe nói chuyện về tội ác của quân giặc… nhờ đó Dền đã sớm giác ngộ cách mạng và trở thành một liên lạc viên tin cậy của tổ chức Đảng. Dền đã mau chóng làm quen với cách thức làm công tác bí mật, nhiều lần đưa, chuyển thư từ, đưa đường cho cán bộ lọt qua sự bao vây, canh gác của địch. Năm 1941, Mặt trận Việt Minh ra đời cùng với sự thành lập của nhiều hội cứu quốc. Trong số đó, tại xóm Nà Mạ, Đội Nhi đồng cứu quốc ra đời với 05 đội viên đầu tiên gồm: Nông Văn Dền (bí danh là Kim Đồng), Nông Văn Thàn (bí danh là Cao Sơn), Lý Văn Tinh (bí danh là Thanh Minh), Lý Thị Nì (bí danh là Thủy Tiên) và Lý Thị Xậu (bí danh là Thanh Thủy). Với bí danh Kim Đồng, Nông Văn Dền được tổ chức bầu làm đội trưởng của Đội Nhi đồng cứu quốc. Đội Nhi đồng cứu quốc được thành lập có mục đích tham gia đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập cho nước nhà, với nhiệm vụ giao thông liên lạc, đưa đón, bảo vệ cán bộ, canh gác các cuộc họp của Đảng. Kim Đồng với vai trò đội trưởng trong bộ quần áo chàm, đầu đội mũ nồi, tay xách lồng chim hoặc cần câu cá luôn nhanh nhẹn mưu trí và đảm bảo bí mật trong mọi hành động. Các thành viên trong đội đều là anh em sinh ra cùng một xóm, vì vậy mỗi khi được giao nhiệm vụ mới, mọi người đều đồng lòng và tin tưởng đội trưởng Kim Đồng. Năm 1941, Bác Hồ về Pác Pó lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 8/1942, Kim Đồng vinh dự được gặp Bác Hồ tại hang Nộc Én ở trên núi sau xóm Nà Mạ. Bác khen ngợi đội trưởng Kim Đồng mưu trí, nhanh nhẹn, dũng cảm. Bác khuyên Kim Đồng cùng đội viên hãy giúp đỡ, tích cực bảo vệ cách mạng, vừa hoạt động vừa học văn hoá, chính trị để sau này nước nhà giành được độc lập, góp phần xây dựng đất nước. Bước sang năm 1943, bọn địch khủng bố, đánh phá dữ dội vùng Pác Pó. Trong một lần đi liên lạc về, phát hiện một toán địch phục kích, Kim Đồng cử Cao Sơn chạy về báo cho các đồng chí cán bộ, còn mình nhanh trí đánh lạc hướng địch. Trúng kế của Kim Đồng, địch nổ súng bắn theo. Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên núi phía sau nhà. Kim Đồng chạy qua suối, địch đuổi bắn, Kim Đồng bị trúng đạn và anh dũng hy sinh ngay bên bờ suối Lê-nin. Hôm ấy là ngày 15/2/1943, Kim Đồng vừa tròn 14 tuổi. Biết ơn sự hy sinh anh dũng quả cảm của Kim Đồng, ngày nay, Khu di tích lịch sử Kim Đồng đã được xây dựng ngay đúng nơi anh ngã xuống tại quê hương Nà Mạ. Ngày 15/5/1986, nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Đội, mộ và tượng người đội viên liệt sĩ anh hùng Kim Đồng trong bộ quần áo dân tộc Nùng đang vươn mình tung con chim sáo bay lên đã được khánh thành. Trước tượng đài có 14 bậc đá và 14 cây lát vươn cao xanh ngắt tượng trưng cho 14 mùa xuân của anh. Nơi đây có một khoảng sân rộng, hàng năm thiếu niên và nhi đồng cả nước thường tụ hội về đây tổ chức các hoạt động vui chơi, dâng hương tưởng nhớ người Đội trưởng đầu tiên của Đội nhi đồng cứu quốc. Năm 1997, Kim Đồng được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Năm 2011, Khu di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia. Đến năm 2012, Trung ương Đoàn và Hội đồng Đội Trung ương đã phát động phong trào kế hoạch nhỏ cho các em thiếu nhi trong cả nước quyên góp đầu tư, tôn tạo, mở rộng khu di tích khang trang hơn. Hình tượng người anh hùng nhỏ tuổi Kim Đồng mãi mãi khắc sâu trong tâm trí của thiếu nhi Việt Nam và đã trở thành một trong những tấm gương anh hùng tiêu biểu, gần gũi nhất đối với thế hệ trẻ. Tên tuổi anh gắn liền với núi sông, trở thành niềm tự hào, động lực phấn đấu cho lớp lớp thế hệ thiếu niên nhi đồng trên khắp cả nước Nguyễn Ngọc Ánh Năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào giai đoạn ác liệt. Trên chiến trường Mường Thanh, những trận đánh giành giật từng ngọn đồi, từng tấc đất diễn ra suốt ngày đêm. Ở mặt trận Him Lam, một người chiến sĩ trẻ tên Phan Đình Giót – quê ở xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh – đang cùng đồng đội chiến đấu quyết liệt. Suốt nhiều ngày, quân ta bám trụ trước hỏa lực dữ dội của địch. Đồi Him Lam bị bao phủ bởi khói bom và đạn pháo. Những ụ súng máy của địch trong các lô cốt kiên cố liên tục nhả đạn, ngăn cản bước tiến của bộ đội ta. Tiểu đội của Phan Đình Giót được giao nhiệm vụ đánh chiếm một trong những lô cốt ấy. Khi xung phong lên, từng đồng đội ngã xuống. Anh Giót vẫn kiên cường tiến lên, vừa bắn vừa hô lớn: “Vì Tổ quốc, xung phong!” Nhưng lô cốt địch quá vững chắc, hỏa lực lại mạnh. Mỗi lần ta vừa ngẩng lên là đạn địch lại trút xuống như mưa. Không thể để đồng đội mãi nằm lại giữa làn đạn, anh Giót lao lên, mang theo bộc phá, dũng cảm áp sát lô cốt. Lần đầu, bộc phá chưa phá được hết. Anh bị thương, máu chảy ướt áo, nhưng vẫn không lùi bước. Anh nhìn thấy đồng đội đang nằm chờ phía sau, lòng bừng cháy một ý chí: “Nếu ta còn sống, đồng đội sẽ còn bị chặn lại. Phải mở đường cho họ tiến lên!” Trong khoảnh khắc quyết định, anh hét lớn: “Thà hy sinh chứ không lùi bước!” Rồi anh lao người mình vào lỗ châu mai, lấy thân mình lấp miệng súng của địch. Tiếng súng của lô cốt im bặt. Đồng đội anh ào lên, tiêu diệt ổ đề kháng và chiếm được cứ điểm. Chiến thắng ấy phải đổi bằng máu, bằng sự hy sinh anh dũng của người chiến sĩ Phan Đình Giót – người đã lấy thân mình làm tấm chắn sống, mở đường cho chiến thắng của cả đơn vị. Sau này, đồng đội và nhân dân luôn nhắc tên anh với lòng biết ơn và tự hào. Anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, tên anh được khắc ghi trên bảng vàng của lịch sử – như biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Lương Thị Lan Anh Ngày xưa, vào cuối thế kỷ XIV, nước Đại Việt ta rơi vào cảnh lầm than. Giặc Minh từ phương Bắc tràn xuống xâm lược, cướp bóc của cải, bắt dân ta lao dịch, làm cho muôn dân oán thán. Ở vùng rừng núi Lam Sơn (Thanh Hóa), có một người con trai dòng dõi hào trưởng, tên là Lê Lợi, tính tình cương trực, thương dân như con. Ông thấy cảnh nước mất nhà tan mà lòng đau như cắt, quyết chí đứng lên cứu nước, cứu dân. Lê Lợi âm thầm tập hợp những người yêu nước quanh mình, rèn luyện quân sĩ, tích trữ lương thảo. Năm 1418, ông chính thức dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương. Nghĩa quân Lam Sơn ban đầu còn yếu, vũ khí ít, lương thực thiếu, nhiều lần bị giặc bao vây. Có lúc, cả nghĩa quân phải ăn củ rừng, lá cây để sống qua ngày. Nhưng nhờ lòng kiên trung và niềm tin vào chính nghĩa, Lê Lợi vẫn giữ vững ý chí, động viên mọi người không nản lòng. Một lần, trong rừng sâu, có người dân tên là Lê Thận thả lưới bắt cá thì vớt được một lưỡi gươm lạ". Sau đó, Lê Lợi tình cờ nhặt được chuôi gươm** khắc hai chữ “Thuận Thiên” – nghĩa là “Thuận theo mệnh trời”. Khi Lê Lợi tra chuôi và lưỡi gươm lại, ánh sáng rực tỏa ra khắp nơi. Từ đó, nghĩa quân càng tin rằng trời đã trao cho Lê Lợi sứ mệnh cứu nước.Thanh gươm Thuận Thiên trở thành biểu tượng của chính nghĩa và sức mạnh vô địch của dân tộc. Trải qua 10 năm kháng chiến gian khổ (1418–1427), với mưu lược tài tình, Lê Lợi cùng các tướng như Nguyễn Trãi, Lê Lai, Trần Nguyên Hãn… đã đánh thắng nhiều trận lớn, quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi. Năm 1428, đất nước được giải phóng, Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ, mở ra triều đại Hậu Lê hưng thịnh kéo dài hơn 300 năm. Sau khi lên ngôi, Lê Lợi chăm lo xây dựng đất nước, phục hồi ruộng đồng, khuyến khích học hành, đặt nền móng cho thời kỳ thái bình lâu dài. Người dân muôn đời ghi nhớ công ơn của ông – vị anh hùng đã đem lại độc lập và tự do cho Đại Việt. Phạm Trà My Võ Thị Sáu sinh năm 1933, tại vùng đất Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Từ nhỏ, chị đã chứng kiến cảnh thực dân Pháp đàn áp, bóc lột dân lành. Lòng yêu nước trong chị bừng cháy từ rất sớm. Mới 14 tuổi, Võ Thị Sáu đã tham gia đội du kích, làm liên lạc, chuyển thư và tiếp tế cho cách mạng. Một lần, chị dũng cảm ném lựu đạn vào toán lính Pháp, tiêu diệt được nhiều tên địch. Dù còn rất trẻ, chị đã trở thành nỗi khiếp sợ của quân thù. Sau đó, trong một lần thực hiện nhiệm vụ, Võ Thị Sáu bị bắt. Bọn thực dân tra tấn dã man nhưng chị vẫn kiên cường, không khai nửa lời. Khi bị kết án tử hình và đưa ra pháp trường Côn Đảo, chị vẫn giữ nụ cười bình thản. Trước khi hy sinh, chị hát vang bài ca yêu nước, ngẩng cao đầu tiến bước. Người con gái tuổi mười bảy ấy đã ngã xuống, nhưng tinh thần của chị sống mãi trong lòng nhân dân. Nhân dân ta đời đời biết ơn và tôn kính Võ Thị Sáu – bông hoa đỏ giữa phong ba bão táp, tượng trưng cho lòng dũng cảm, kiên trung của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Phạm Yến Nhi Vào thế kỷ XIII, đất nước Đại Việt đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi quân Nguyên Mông – đội quân hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Giữa thời khắc hiểm nguy ấy, một người con ưu tú của dân tộc đã đứng lên lãnh đạo quân dân ta đánh tan kẻ thù, bảo vệ non sông – đó chính là Trần Hưng Đạo. Trần Hưng Đạo, tên thật là Trần Quốc Tuấn, sinh ra trong một gia đình quý tộc thời nhà Trần. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, dũng cảm và có lòng yêu nước sâu sắc. Khi giặc Nguyên Mông tràn xuống xâm lược, ông được vua Trần giao trọng trách chỉ huy quân đội. Ông không chỉ là một vị tướng tài giỏi mà còn là người biết đoàn kết toàn dân. Ông nói với tướng sĩ của mình: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã.” Nhờ tinh thần quả cảm ấy, toàn dân Đại Việt đồng lòng đứng lên chiến đấu. Dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo, quân ta đã giành chiến thắng vang dội trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Trận Bạch Đằng năm 1288 là một minh chứng hùng hồn cho trí tuệ và lòng dũng cảm của ông. Chỉ bằng bãi cọc gỗ ngầm và kế nghi binh tài tình, ông đã tiêu diệt hoàn toàn đạo quân xâm lược hùng mạnh. Sau khi đất nước yên bình, Trần Hưng Đạo không mưu cầu danh lợi. Ông chuyên tâm viết sách dạy quân, như “**Binh thư yếu lược**”, để lại cho đời sau những bài học quý báu về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết. Trần Hưng Đạo mất năm 1300, nhân dân thương tiếc vô cùng, lập đền thờ ông khắp nơi, tôn xưng là Đức Thánh Trần. Hình ảnh vị anh hùng áo giáp bạc, cưỡi ngựa chỉ huy giữa sông Bạch Đằng mãi mãi khắc sâu trong lòng người dân Việt Nam. Trần Xuân Phương Ngày xưa, vào cuối thế kỷ X, đất nước Đại Cồ Việt dưới triều Tiền Lê tuy đã thoát khỏi ách đô hộ phương Bắc, nhưng triều chính rối ren, vua quan chia bè kéo cánh, dân chúng lầm than. Giữa thời loạn ấy, có một người thanh niên tài đức hơn người – Lý Công Uẩn, quê ở làng Cổ Pháp (nay là Bắc Ninh).Từ nhỏ, Lý Công Uẩn mồ côi cha mẹ, được nhà sư Lý Khánh Vân nuôi dạy tại chùa Lục Tổ. Cậu bé thông minh, hiếu học, chăm chỉ và luôn có lòng thương dân, yêu nước. Lớn lên, ông theo phò vua Lê Đại Hành, rồi làm quan dưới triều Lê Long Đĩnh – một ông vua tàn bạo và sa đọa. Thấy cảnh dân khổ, lòng ông vô cùng đau xót. Khi Lê Long Đĩnh mất, triều đình rối loạn. Quần thần đều tin rằng chỉ có Lý Công Uẩn mới đủ tài đức để giữ yên thiên hạ. Năm 1009, ông được tôn lên ngôi, lấy niên hiệu là Lý Thái Tổ, mở đầu triều Lý – một triều đại thịnh trị kéo dài hơn 200 năm. Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ nhận thấy kinh đô Hoa Lư tuy hiểm trở nhưng chật hẹp, không thuận lợi cho dân sinh và giao thương. Ông bèn quyết định dời đô ra thành Đại La, một vùng đất bằng phẳng, rộng rãi, trung tâm của đất nước, “rồng chầu hổ phục, chính giữa trời Nam”. Năm 1010, ông ban Chiếu dời đô, rồi thân chinh dẫn đoàn quân ra vùng đất mới. Khi thuyền rồng vừa đến nơi, ông nhìn thấy rồng vàng bay lên, coi đó là điềm lành nên đổi tên Đại La thành Thăng Long – “rồng bay lên”. Từ đó, Thăng Long trở thành kinh đô ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Dưới triều Lý, đất nước thái bình, dân no đủ, văn hóa và Phật giáo phát triển rực rỡ. Nguyễn Thanh Hải Linh cảm nhận được sự căng thẳng trong từng tiếng búa, từng nhát đẽo. Cô quyết tâm không chỉ đứng nhìn. II. Mưu Trí Của Người Dân Chài Vài tuần sau, thông tin tình báo cho biết đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ thuộc quân Nguyên sắp tiến vào cửa sông. Nếu chúng tiếp tế được, quân Nguyên sẽ có thêm sức mạnh để phá vỡ thế trận của ta. Linh, với kinh nghiệm đi thuyền trên sông từ nhỏ, đã nghĩ ra một cách: • Cô tập hợp những bạn chài trẻ tuổi, dũng cảm. • Họ dùng những chiếc thuyền nhỏ, nhẹ, dễ luồn lách. • Vào đêm tối, khi thủy triều đang lên, họ lén lút thả những bó cỏ khô và rơm rạ tẩm dầu xuống thượng nguồn. Mục đích của họ là tạo ra một tín hiệu giả, làm rối loạn hàng ngũ và làm chậm bước tiến của thuyền lương địch. Đêm đó, khi đoàn thuyền lương Nguyên Mông khổng lồ hùng hổ tiến vào, bất ngờ, những ngọn lửa bùng cháy từ các bó rơm trôi theo dòng nước. Các chiến thuyền của Nguyên Mông lầm tưởng đây là một cuộc tập kích hỏa công quy mô lớn của quân Đại Việt, trở nên hoảng loạn. Việc này tuy không gây thiệt hại lớn, nhưng đã thành công làm chậm tốc độ di chuyển của thuyền lương và tạo ra sự nghi ngờ, khiến chúng không dám tiến sâu vào nhanh chóng. III. Trận Chiến Quyết Định Trận chiến quyết định diễn ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1288. Sau khi đoàn thuyền lương bị trì hoãn và bị quân ta đánh chặn liên tục, đội chiến thuyền của Thoát Hoan buộc phải tìm đường rút lui qua cửa sông Bạch Đằng theo kế hoạch đã định. Sáng hôm đó, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lệnh cho quân ta giả thua, dụ địch vào sâu bãi cọc. Linh và dân làng đứng trên bờ, tim đập thình thịch. Khi quân Nguyên lọt vào giữa trận địa, Trần Quốc Tuấn ra lệnh tổng tiến công. Cùng lúc đó, thủy triều bắt đầu xuống nhanh chóng. Tiếng hò reo vang vọng khắp sông nước, những chiếc cọc ngầm khủng khiếp từ từ lộ ra. Hàng trăm chiến thuyền Nguyên Mông bị cọc đâm thủng đáy, bị mắc kẹt và bị lật úp. Quân lính hoảng loạn, nhảy xuống sông cũng bị cọc nhọn đâm phải. Linh chứng kiến cảnh tượng đó: hàng trăm con thuyền địch bị mắc kẹt trên bãi cọc, trở thành mục tiêu cho quân đội Đại Việt. Sông Bạch Đằng không còn là dòng sông yên ả mà trở thành mồ chôn cho tham vọng xâm lược. Kết Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 vang dội, đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược của quân Nguyên Mông. Sau chiến thắng, cha của Linh cười rạng rỡ, ôm lấy con gái. Ông nói: “Cọc gỗ của cha đã hoàn thành sứ mệnh. Nhưng con gái, ngọn lửa mưu trí của con đã góp phần làm nên ngày hôm nay.” Linh hiểu rằng, chiến thắng vĩ đại này không chỉ nhờ vào tài thao lược của Hưng Đạo Vương, mà còn nhờ vào sự đoàn kết, lòng dũng cảm và mưu trí của những người dân chài bình dị, những người đã âm thầm bảo vệ từng tấc đất, từng dòng sông của quê hương. Câu chuyện này kết hợp sự kiện lịch sử có thật (Trận Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương, cọc gỗ) với nhân vật hư cấu (Linh) để làm nổi bật vai trò của người dân thường trong cuộc chiến đấu giữ nước. Vũ Đức Vượng Đinh Núp là người dân tộc Ba Na, sinh ra và lớn lên ở làng Stơr, K’bang (tỉnh Gia Lai). Đinh Núp mồ côi cha từ nhỏ, 15 tuổi bị bắt đi phu, Núp đã chứng kiến nhiều nỗi bất công, đau khổ của người dân dưới ách cai trị của thực dân Pháp nên sớm nung nấu tinh thần đấu tranh cách mạng. Năm Đinh Núp 22 tuổi, trong một lần quân Pháp về bắt phu, dân làng trốn hết vào rừng, một mình Núp ở lại, đứng sau gốc cây, dùng nỏ nhằm thẳng quân Pháp mà bắn. Mũi tên trúng vào một lính Pháp, một dòng máu đỏ chảy ra. Núp đem chuyện đó kể với dân làng. Đây là lần đầu tiên mọi người biết rằng lính Pháp cũng là người chứ không phải “quái vật không thể chết” như tin đồn. Từ đó, Núp đã cùng dân làng đánh Pháp. Năm 1955, Đinh Núp là người Tây Nguyên đầu tiên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 5/1964, nhà nước Cu Ba đã mời anh hùng Núp sang thăm. Tại lần gặp gỡ này, Chủ tịch Cu Ba là Phi-đen Cát-xtơ-rô và anh hùng Núp đã kết nghĩa anh em. Vũ Gia Bảo Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: “Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho. Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng. Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Liêu) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào. Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành.” Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái. Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18. Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất. Vũ Trung Hiếu Vào thời Hùng Vương, có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một mình và không có con. Một sáng nọ bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vế chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kêu lên: Ôi bàn chân ai mà to thế này! Bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Sau khi ướm thử vào dấu chân lạ, bà có mang. Đủ tháng đủ ngày bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm. Bà đặt tên là Gióng. Nhưng thằng bé lên 3 tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi, không biết lẫy, cũng không biết nói hay cười. Ngày ấy, giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung tàn, cầm đầu là một tên tướng gọi là Ân vương. Chúng đi đến đâu là đốt nhà, phá cửa, giết người cướp của đến đấy. Hùng Vương nhiều lần xuất trận nhưng không đánh nổi lại chúng. Vua hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi tìm tướng tài cứu nước. Một hôm, sứ giả đi đến làng của chú bé Gióng. Gióng nghe loa thấy việc nhà Vua đang tìm người tài đánh giặc cứu nước, mẹ Gióng đang ru con liền đùa rằng: Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giữ nước được đây. Không ngờ, Gióng nhìn mẹ mở miệng cất thành tiếng: Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con! Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng, vừa sợ vội kể chuyện với xóm giềng. Mọi người tới nhà ai nấy cũng cho là một sự lạ. Sau cùng, 1 người nói: Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì. Khi sứ giả của nhà Vua bước vào, nhìn thấy cậu bé Gióng liền nói: Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến đây để làm gì? Gióng trả lời đầy chững chạc: Về bảo với nhà Vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một áo giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc giữ cho. Ai nấy nghe xong đều khôn xiết lạ lùng, cho rằng thần nhân xuất hiện. Sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà Vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ, ra lệnh cho thợ rèn gom tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của cậu bé. Khi mọi thứ rèn xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Hùng Vương phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách để mang đến cho cậu bé Gióng. Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo với con: Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi rồi, biết làm thế nào bây giờ con? Nghe nói thế, Gióng vụt đứng dậy và nói: Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo. Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được! Bà mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng cứ nấu lên được nồi nào Gióng ăn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm được một ít và đòi ăn thêm. Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn nhanh như thổi, bỗng chốc đã trở thành một cậu thanh niên vô cùng khỏe mạnh. Hết gạo, bà mẹ kêu gọi hàng xóm láng giềng. Cả làng nô nức đem gạo khoai, trâu, rượu, hoa quả, bánh trái mang đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu thì Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ. Sau đó, Gióng lại bảo tiếp: Mẹ phải kiếm vải cho con mặc. Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt trội một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm đến nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm. Ta là tướng nhà Trời! Nói rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng. Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời. Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Thánh Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng thiên vương. Ngày nay chúng ta còn thấy vẫn còn những dấu vết như dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng đã nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà). Trần Tuấn Du Một đêm mưa rừng nặng hạt, gió thổi ràn rạt qua mái lán nhỏ giữa chiến khu Việt Bắc. Trong căn lán ấy, một ngọn đèn dầu leo lét cháy — ánh sáng vàng yếu ớt nhưng đủ để soi gương mặt gầy gò, cương nghị của chị Lý, một nữ giao liên trẻ. Chị vừa đi bộ suốt hai ngày ròng từ làng Bản Cả, mang theo bức thư mật của chỉ huy gửi cho đơn vị ở Tân Trào. Dọc đường, địch phục kích khắp nơi, chị phải ẩn trong bụi rậm, băng qua suối lạnh, nhiều lần suýt bị bắt. Đôi giày vải rách nát, bàn chân sưng phồng, nhưng chị vẫn bước, bởi trong tim chỉ có một ý nghĩ: “Thư phải đến tay bộ đội, dù mình có ngã xuống.” Khi tới lán, người chỉ huy trung đoàn nhận thư, siết chặt tay chị: Cảm ơn đồng chí, nhờ chị mà kế hoạch không bị lộ. Chị Lý mỉm cười, đôi mắt sáng lên giữa ánh đèn mờ: Còn em, chỉ mong một ngày đất nước mình không còn chiến tranh, để ai cũng được sống dưới ánh đèn bình yên như thế này… Cơn mưa vẫn rơi lộp độp trên mái nứa. Ngọn đèn dầu lay động, soi lên lá cờ đỏ treo nơi góc lán — lá Trần Ngọc Yến Đêm nay, gió heo may se se lạnh, tôi ngồi bên chiếc võng của ông ngoại, lắng nghe tiếng thở đều đều pha lẫn hương hoa bưởi thoang thoảng. Bỗng, ông trở mình, đôi mắt mở ra ánh lên một thứ ánh sáng lạ kỳ. “Cháu ơi,” – giọng ông trầm ấm – “Ông kể cho cháu nghe về trận đánh cuối cùng ở Điện Biên Phủ nhé.” “Đó là những ngày tháng Năm lịch sử năm 1954,” ông bắt đầu, giọng đầy xúc động. “Sau gần hai tháng gian khổ, chúng tôi đã siết chặt vòng vây xung quanh tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp. Nhưng trận đánh cuối cùng này mới thực sự là thử thách khốc liệt nhất.” Ông kể, đồi A1 khi ấy như một con quái vật khổng lồ bằng bê tông và sắt thép. Lính Pháp dựa vào hệ thống hầm ngầm kiên cố, những bãi mìn dày đặc và hỏa lực mạnh để cố thủ. Nhiều đợt tấn công của bộ đội ta đều bị đẩy lùi, thương vong nhiều. “Đêm 6 tháng 5, không khí căng như dây đàn,” ông nói, ánh mắt như xuyên qua không gian và thời gian. “Chúng tôi nhận lệnh tổng công kích. Trước đó, một khối bộc phá nặng gần một tấn đã được các chiến sĩ công binh âm thầm đưa vào đặt dưới hầm ngầm của địch. Chúng tôi chờ đợi trong im lặng, trái tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.” “Rồi tiếng nổ vang trời!” – Ông giơ tay lên, như tái hiện lại khoảnh khắc ấy. “Cả bầu trời Điện Biên rung chuyển. Một cột khói bụi, lửa đỏ rực cả một góc trời. Đất dưới chân chúng tôi rung lên bần bật. Ngay lập tức, tiếng kèn xung phong vang lên. Chúng tôi, những người lính, ào lên như vũ bão, tiến vào cứ điểm cuối cùng của kẻ thù.” Ông kể, trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Tiếng súng, tiếng đạn, tiếng hò hét xung phong, tiếng gọi nhau của đồng đội hòa vào nhau. Khói lửa mù mịt. Nhưng với khí thế ngất trời và quyết tâm “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, bộ đội ta đã lần lượt tiêu diệt các ổ kháng cự cuối cùng. “Sáng 7 tháng 5, chúng tôi tiến vào sở chỉ huy của tướng De Castries,” giọng ông chùng xuống, đầy xúc động. “Nhìn lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của ta tung bay trên nóc hầm, chúng tôi ôm lấy nhau, mừng rơi nước mắt. Bao nhiêu gian khổ, hy sinh cuối cùng cũng được đền đáp. Chúng tôi đã thắng!” Ông ngoại tôi lặng đi một lúc, đôi mắt đỏ hoe. “Cháu biết không, chiến thắng ấy không chỉ bằng súng đạn, mà bằng ý chí, bằng lòng yêu nước và sự đoàn kết của toàn dân. Có những người bạn của ông đã mãi mãi nằm lại nơi ấy. Họ hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, để hôm nay các cháu được sống trong hòa bình.” Câu chuyện của ông kết thúc, nhưng trong tôi, hình ảnh về một thời máu lửa hào hùng vẫn còn nguyên vẹn. Tôi hiểu rằng, mỗi tấc đất, mỗi sự bình yên của hôm nay đều được đổi bằng xương máu của thế hệ cha ông. Và nhiệm vụ của thế hệ trẻ chúng tôi là phải gìn giữ, phát huy và viết tiếp những trang sử vẻ vang ấy bằng chính sự học tập và lao động của mình. Đêm ấy, tôi ngủ thiếp đi trong lòng đầy biết ơn và tự hào, với âm vang của lịch sử và hơi ấm từ câu chuyện của người ông kính yêu. Phạm Quế Chi Trong bản anh hùng ca về Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, câu chuyện về Phan Đình Giót mãi mãi là một sự thật lịch sử chói lọi, tượng trưng cho tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc Quyết sinh” của quân dân Việt Nam. Anh là chiến sĩ thuộc Đại đoàn 312, người đã ra đi từ mảnh đất nghèo khó Hà Tĩnh, nhưng đã làm nên một hành động phi thường tại chiến trường khốc liệt nhất. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, khi quân ta nổ súng tấn công cứ điểm Him Lam, cửa ngõ quan trọng mở màn chiến dịch, trận chiến lập tức biến thành cuộc đối đầu sinh tử. Đại đội của Phan Đình Giót vấp phải hỏa lực cực mạnh từ một lô cốt địch, mà cụ thể là một lỗ châu mai liên tục nhả đạn, làm nhiều đồng đội hy sinh và chặn đứng toàn bộ đà tiến quân. Dù đã bị thương ba lần, máu chảy đầm đìa, anh vẫn kiên quyết bò lên. Trong khoảnh khắc quyết định, khi nhận thấy mọi nỗ lực tiêu diệt hỏa điểm bằng bộc phá hay lựu đạn đều không triệt để, Phan Đình Giót đã đưa ra một quyết định tột cùng của sự dũng cảm: Anh hét lớn “Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!” rồi dồn hết sức lực cuối cùng, lao cả thân mình vào bịt kín lỗ châu mai của địch. Hỏa điểm lập tức tắt ngúm, tạo ra thời cơ vàng. Hành động hy sinh anh dũng và có thật này của Phan Đình Giót đã mở toang cánh cửa chiến thắng Him Lam, đập tan cứ điểm đầu tiên của “pháo đài bất khả xâm phạm” Điện Biên Phủ, tạo đà cho toàn bộ chiến dịch thành công sau này. Anh ngã xuống, nhưng tấm thân ấy đã trở thành một cột mốc lịch sử, một biểu tượng vĩ đại về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khắc sâu vào tâm khảm người Việt Nam và được ghi danh mãi mãi trong chính sử. Hà Đình Bảo Nguyễn Bá Ngọc sinh năm 1952 tại xã Quảng Trung huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1965, khi đang học lớp 4B trường PTCS Quảng Trung, Ngọc là một học sinh chăm ngoan học giỏi và rất hay giúp đỡ bạn bè. Cũng năm đó giặc Mĩ mở rộng chiến tranh và cho máy bay đánh phá các tỉnh miền Bắc nước ta, chúng ném bom cả trường học, bệnh viện... Sáng ngày 4 tháng 4 năm 1965 đế quốc Mĩ cho máy bay bắn phá vào xã Quảng Trung, quê hương của Nguyễn Bá Ngọc. Bố mẹ đi làm đồng, Ngọc một mình đưa các em nhỏ xuống hầm tránh bom. Trong lúc bom đạn đang gầm rú, Ngọc bỗng nghe tiếng khóc bên nhà bạn Khương. Không quản nguy hiểm Ngọc ra khỏi hầm và băng mình sang nhà Khương. Bạn Khương đã bị thương nặng, hai em của Khương đang sợ hãi gào khóc. Ngọc vội lấy thân mình che chở cho hai em và dìu các em xuống hầm. Cứu được hai em nhỏ an toàn, nhưng Ngọc bị trúng bom bi của giặc. Mặc dù đã được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng do vết thương quá nặng Nguyễn Bá Ngọc đã anh dũng hy sinh vào lúc 2 giờ sáng ngày 5-4-1965, khi ấy Ngọc mới bước sang tuổi 14. Bùi Trung Anh Ngày xưa, ở làng Phù Đổng (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội), có hai vợ chồng già hiền lành nhưng mãi chưa có con. Một hôm, người vợ ra đồng thấy một vết chân rất to, bà đặt chân mình ướm thử, rồi sau đó về nhà mang thai. Mười hai tháng sau, bà sinh ra một cậu bé nhưng lạ thay — ba năm trời cậu bé không biết nói, không biết cười, cũng chẳng biết đi. Một ngày nọ, giặc Ân từ phương Bắc tràn sang xâm lược nước ta, nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài cứu nước. Khi nghe tiếng loa truyền lệnh, cậu bé bỗng cất tiếng nói đầu tiên: “Mẹ ơi, mẹ ra gọi sứ giả vào đây cho con!” Mọi người kinh ngạc. Khi sứ giả đến, Gióng nói: - “Về tâu với nhà vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một roi sắt và một bộ áo giáp sắt, ta sẽ đánh tan giặc.”Nhà vua làm theo. Khi mọi thứ được mang tới, Gióng bỗng vươn vai trở thành một chàng trai khổng lồ, mặc áo giáp, cưỡi ngựa sắt phun lửa, cầm roi sắt xông ra trận. Chàng đánh tan giặc Ân, giữ yên bờ cõi nước nhà. Sau chiến thắng, Gióng cưỡi ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn, bay thẳng lên trời, để lại dấu chân in sâu trong đất. Từ đó, nhân dân tôn Gióng là Phù Đổng Thiên Vương, vị thánh bảo hộ của dân tộc Việt Nam. Đào Minh Thư Đồng chí Nguyễn Chí Thanh (1914 – 1967) tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ra tại làng Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, từ nhỏ đã sớm thấm thía nỗi khổ cực của người dân lao động dưới ách đô hộ thực dân – phong kiến. Tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc đã sớm nảy nở trong con người ông, dẫn dắt ông đến với con đường cách mạng khi mới hơn hai mươi tuổi. Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhanh chóng trở thành một cán bộ kiên trung, gan dạ, được nhân dân và đồng đội tin yêu. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Chí Thanh là một trong những nhà lãnh đạo quân sự – chính trị nổi bật của Việt Nam. Ông từng giữ chức Chính ủy Trung Bộ, sau đó là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam – người đứng đầu công tác chính trị trong quân đội. Dưới sự chỉ đạo của ông, công tác xây dựng Đảng trong quân đội, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ được chú trọng và phát triển mạnh mẽ. Chính ông là người đã khởi xướng phong trào thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Pháp xâm lược”, động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta. Phong cách chỉ huy của ông thể hiện rõ tinh thần “gan vàng, dạ sắt”, vừa kiên quyết, vừa gần gũi, giản dị. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt, Nguyễn Chí Thanh được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng. Ông tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sau đó là Ủy viên Bộ Chính trị – cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Trong thời gian làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông đặc biệt quan tâm xây dựng hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – người chiến sĩ vừa có kỷ luật, vừa có lòng nhân ái, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bùng nổ, ông được điều vào miền Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng. Dưới sự lãnh đạo của ông, phong trào chiến đấu và nổi dậy ở miền Nam phát triển mạnh, góp phần quan trọng tạo nên những thắng lợi vang dội đầu tiên. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh không chỉ là một vị tướng tài giỏi mà còn là một nhà lý luận quân sự – chính trị sắc bén. Ông chủ trương xây dựng quân đội “chính quy mà dân chủ”, kết hợp giữa chiến đấu và sản xuất, giữa quân sự và chính trị, coi trọng yếu tố con người trong mọi chiến lược. Với phong cách làm việc tận tụy, giản dị, gần gũi với quần chúng, ông để lại nhiều tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Dù giữ cương vị cao, ông vẫn sống khiêm tốn, chân thành, luôn quan tâm đến đời sống chiến sĩ và nhân dân. Ngày 6 tháng 7 năm 1967, trong một lần ra Bắc báo cáo với Trung ương, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời do bệnh nặng, hưởng dương 53 tuổi. Sự ra đi của ông là tổn thất lớn đối với Đảng, Quân đội và nhân dân Việt Nam. Tuy vậy, tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn sống mãi trong lòng dân tộc – một biểu tượng của lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, của tinh thần kiên cường và ý chí cách mạng bất diệt. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho các thế hệ sau noi theo – người cộng sản mẫu mực, người chiến sĩ kiên trung và vị tướng của nhân dân.