Bài viết

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ MẸ THỨ - NGƯỜI MẸ CHÍN LẦN TIỄN CON ĐI

Chín giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là chiến tranh kết thúc. Trên cầu Rạch Chiếc, cửa ngõ phía đông Sài Gòn, người chiến sĩ biệt động Lê Tự Chuyển ngã xuống. Ở cách đó gần một nghìn cây số, trong ngôi nhà nhỏ tại làng Thanh Quýt, đất Điện Bàn, Quảng Nam, mẹ anh chưa biết rằng mình vừa mất thêm một người con. Người con thứ chín.

Quảng Ngãi14/10/2026Long Trịnh Thành (phường Chương Mỹ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ MẸ THỨ - NGƯỜI MẸ CHÍN LẦN TIỄN CON ĐI

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ

MẸ THỨ - NGƯỜI MẸ CHÍN LẦN TIỄN CON ĐI

(Viết về Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ)

Chín giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là chiến tranh kết thúc. Trên cầu Rạch Chiếc, cửa ngõ phía đông Sài Gòn, người chiến sĩ biệt động Lê Tự Chuyển ngã xuống. Ở cách đó gần một nghìn cây số, trong ngôi nhà nhỏ tại làng Thanh Quýt, đất Điện Bàn, Quảng Nam, mẹ anh chưa biết rằng mình vừa mất thêm một người con. Người con thứ chín.

Trưa hôm ấy, cả nước vỡ òa trong niềm vui thống nhất. Còn với mẹ Nguyễn Thị Thứ, hòa bình đến cùng một sự thật không gì bù đắp nổi: chín người con trai mẹ tiễn ra đi, không một ai trở về.

1. Người mẹ làng Thanh Quýt

Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, vùng đất mà suốt hai cuộc kháng chiến luôn là nơi giành giật quyết liệt giữa ta và địch. Mẹ lập gia đình với ông Lê Tự Trị, rồi sinh mười hai người con: một người con gái đầu lòng và mười một người con trai.

Như bao người phụ nữ xứ Quảng, đời mẹ gắn với ruộng lúa, vườn rau và những bữa cơm chắt chiu cho đàn con đông. Mười hai lần sinh nở, mười hai lần nuôi con qua những năm tháng đói kém, mẹ chỉ mong các con lớn lên khỏe mạnh, nên người. Nhưng các con mẹ lớn lên đúng vào lúc đất nước có giặc. Lần lượt, từng người một, họ xin mẹ cho đi.

Và mẹ đã để các con đi.

2. Chín lần mẹ nhận tin dữ

Mất mát đầu tiên đến vào năm 1948. Ngày 18 tháng 6 năm ấy, anh Lê Tự Xuyến, chiến sĩ giao liên, bị giặc Pháp bắn chết ngay tại đầu làng. Mẹ chưa kịp nguôi thì tháng 10 cùng năm, anh Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi đang làm nhiệm vụ tải thương. Chỉ ít ngày sau, anh Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong một trận chống càn.

Trong vòng chưa đầy bốn tháng, mẹ ba lần chít khăn tang cho con.

Tháng 4 năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp đến ngày thắng lợi, anh Lê Tự Lem hy sinh trong chiến đấu lúc vừa tròn hai mươi tuổi. Hòa bình lập lại ở miền Bắc, nhưng quê mẹ vẫn nằm trong vùng địch. Những người con còn lại của mẹ tiếp tục lên đường.

Tháng 9 năm 1966, anh Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, mẹ mất hai người con trong cùng một năm: anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh. Năm 1974, anh Lê Tự Thịnh, đại đội trưởng bộ đội ở Duy Xuyên, ngã xuống. Rồi đến sáng 30 tháng 4 năm 1975, là anh Lê Tự Chuyển, người con trai cả.

Hai mươi bảy năm, chín lần tin dữ. Người hy sinh đầu tiên ngã ngay ở đầu làng, trong tầm mắt mẹ. Người hy sinh cuối cùng ngã ở cửa ngõ Sài Gòn, khi chiến thắng chỉ còn tính bằng giờ. Giữa hai cái mốc ấy là cả tuổi trung niên và tuổi già của một người mẹ, đo bằng những lần thắp hương.

Nỗi đau của mẹ chưa dừng ở đó. Con rể của mẹ, ông Ngô Tường, tham gia cách mạng từ thời chống Pháp, bị địch bắt năm 1956 và tra tấn đến chết. Hai cháu ngoại của mẹ là chị Ngô Thị Điểu và chị Ngô Thị Cúc cũng lần lượt hy sinh vào các năm 1970 và 1973. Cộng lại, gia đình mẹ có mười hai liệt sĩ: chín con trai, một con rể và hai cháu ngoại.

3. Năm căn hầm trong vườn mẹ

Sẽ là chưa đủ nếu chỉ nhớ đến mẹ Thứ như một người mẹ chịu nhiều mất mát. Mẹ còn là một người trực tiếp góp sức cho kháng chiến.

Trong những năm ác liệt nhất, khi làng Thanh Quýt thường xuyên bị càn quét, mẹ cùng người con gái đầu lòng Lê Thị Trị đào năm căn hầm bí mật ngay trong vườn nhà. Mẹ trồng thật nhiều cỏ phủ lên trên để ngụy trang. Từ những căn hầm ấy, hai mẹ con đã nuôi giấu hàng nghìn lượt cán bộ, bộ đội, du kích.

Mỗi bữa cơm mẹ nấu thêm cho người dưới hầm là một lần cả nhà đặt cược mạng sống. Mẹ hiểu rõ điều đó hơn ai hết, bởi mẹ đã biết thế nào là mất con. Vậy mà mẹ vẫn làm, năm này qua năm khác. Những người lính được mẹ che chở không phải con mẹ sinh ra, nhưng mẹ thương họ như thương các con mình đang ở một chiến trường nào đó, mong cũng có một người mẹ khác đùm bọc.

Người con gái cùng mẹ đào hầm năm xưa, bà Lê Thị Trị, về sau cũng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì chính bà có chồng và hai con là liệt sĩ. Trong một mái nhà có hai thế hệ Mẹ Việt Nam Anh hùng. Điều ấy vừa là vinh dự, vừa nói lên cái giá mà một gia đình đã trả cho độc lập.

4. Hòa bình của mẹ

Sau ngày thống nhất, mẹ Thứ sống thêm ba mươi lăm năm. Đó là ba mươi lăm năm hòa bình, thứ hòa bình mà các con mẹ đã đổi bằng tuổi trẻ của họ và chưa một ai kịp nhìn thấy.

Ngày 17 tháng 12 năm 1994, mẹ nằm trong số những người mẹ đầu tiên của cả nước được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Năm ấy mẹ đã chín mươi tuổi.

Mẹ qua đời ngày 10 tháng 12 năm 2010, thọ 106 tuổi. Mẹ được an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn, về nằm bên những người đã ngã xuống cho quê hương, như cách quê hương đón một người mẹ trở về với các con.

Hình ảnh của mẹ được chọn làm nguyên mẫu cho Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên núi Cấm, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, công trình do nhà điêu khắc Đinh Gia Thắng sáng tác, khởi công ngày 27 tháng 7 năm 2009. Gương mặt mẹ tạc vào đá, hiền hậu và lặng lẽ, từ đó không còn là gương mặt của riêng một người, mà là gương mặt chung của những người mẹ Việt Nam đã tiễn con ra trận.

5. Gần một trăm bốn mươi nghìn người mẹ

Mẹ Thứ là người mẹ có nhiều con, cháu hy sinh nhất, nhưng mẹ không phải là duy nhất. Từ khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1994, cả nước đã phong tặng và truy tặng danh hiệu này cho gần 140.000 mẹ. Riêng đợt đầu tiên, ngày 17 tháng 12 năm 1994, đã có 19.879 mẹ được vinh danh. Quảng Nam quê mẹ Thứ là địa phương có nhiều Mẹ Việt Nam Anh hùng nhất cả nước, với hơn 15.000 mẹ.

Đằng sau mỗi con số ấy là một mái nhà vắng người, một mâm cơm thừa chỗ, một người phụ nữ đã đi hết phần đời còn lại với những tấm di ảnh. Chiến tranh không chỉ diễn ra ở chiến hào. Nó còn diễn ra trong lòng những người ở lại, lặng lẽ và dài hơn rất nhiều.

6. Điều mẹ để lại

Chúng ta thường nói về lòng dũng cảm như là việc cầm súng xông lên. Câu chuyện của mẹ Thứ cho thấy một dạng dũng cảm khác: dũng cảm buông tay để con mình ra đi, rồi lại tiếp tục buông tay với người con kế tiếp, dù đã biết rõ điều gì có thể chờ ở cuối con đường.

Mẹ không để lại lời lẽ lớn lao nào. Mẹ để lại chín cái tên trên bia liệt sĩ, năm căn hầm trong vườn và một đời sống giản dị, bền bỉ. Chừng ấy là đủ để những người sinh ra trong hòa bình hiểu rằng cuộc sống hôm nay không tự nhiên mà có.

Với thế hệ trẻ, nhớ ơn mẹ trước hết là biết và kể lại cho đúng câu chuyện của mẹ, để những cái tên Xuyến, Hàn Anh, Hàn Em, Lem, Nự, Mười, Trịnh, Thịnh, Chuyển không trở thành xa lạ. Sau đó là sống cho xứng đáng: học tập và làm việc tử tế, quan tâm chăm sóc những Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống và các gia đình có công, gìn giữ nền hòa bình mà các mẹ đã góp bằng chính những đứa con mình.

Trên núi Cấm, mẹ vẫn ngồi đó, nhìn về phía những cánh đồng Quảng Nam. Người đến viếng thường đứng lặng rất lâu. Có lẽ vì trước mẹ, ai cũng thấy mình là một đứa con.

Nguồn tư liệu

1. Báo Tuổi Trẻ, bài về lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ, ngày 27/7/2024.

3. Báo VietNamNet, bài “Mẹ Việt Nam anh hùng - Tượng đài bất tử của Tổ quốc”.

4. Báo Pháp luật Việt Nam, bài “Ngày mẹ Thứ ra đi”; Tạp chí Văn hóa và Phát triển, bài “Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ MẸ THỨ - NGƯỜI MẸ CHÍN LẦN TIỄN CON ĐI | Câu chuyện thời hoa lửa