Bài viết

Câu chuyện lịch sử trực tiếp tham gia kháng chiến của ông Hoàng Văn Tấn

Phú Thọ24/12/2025Đoàn xã Vân Bán (Đoàn xã Vân Bán)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi tên là Hoàng Văn Tấn, sinh ra và lớn lên tại xã Vân Bán. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, tôi mới mười chín tuổi. Tuổi đời còn trẻ, chưa hiểu hết những hiểm nguy phía trước, nhưng tận mắt chứng kiến cảnh giặc về làng càn quét, bắt người, đốt nhà, cướp thóc của dân, tôi hiểu rằng nếu mình không đứng lên thì quê hương sẽ mãi chìm trong đau khổ.

Những ngày đầu tham gia cách mạng, tôi được kết nạp vào lực lượng du kích xã Vân Bán. Nhiệm vụ của tôi là canh gác, đưa đón cán bộ, làm giao liên và nắm tình hình địch. Ban ngày tôi vẫn ra đồng làm ruộng như bao người dân khác, nhưng tối đến lại tham gia họp bí mật, học cách sử dụng vũ khí thô sơ, đào hầm bí mật và luyện tập chiến đấu. Cuộc sống khi ấy luôn trong tình trạng căng thẳng, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể phải trả giá bằng tính mạng. Tôi còn nhớ rất rõ những đêm làm nhiệm vụ gác làng. Trời tối như mực, sương xuống lạnh buốt, tay nắm chặt cây giáo tự tạo, tai lắng nghe từng tiếng động lạ. Có những lần giặc bất ngờ càn vào làng, chúng tôi phải nhanh chóng báo động, dẫn bà con sơ tán, đồng thời che giấu cán bộ và tài liệu. Tim đập dồn dập, chân run lên vì sợ, nhưng không ai dám rời vị trí.

Một lần khác, tôi được giao nhiệm vụ dẫn đường cho cán bộ huyện về cơ sở trong điều kiện địch phong tỏa gắt gao. Chúng tôi phải men theo bờ suối, lội nước suốt nhiều giờ liền để tránh địch. Khi nghe tiếng súng nổ phía xa, tôi biết địch đã phát hiện dấu vết. Tôi dẫn cán bộ rẽ sâu vào rừng, nín thở ẩn mình sau những bụi cây rậm rạp. Đêm ấy, cả hai người vừa đói, vừa rét, nhưng cuối cùng cũng đưa được cán bộ về nơi an toàn. Trong các đợt địch càn lớn, du kích chúng tôi phối hợp với bộ đội đánh nhỏ, đánh lẻ, phá đường, phục kích để bảo vệ làng. Vũ khí của chúng tôi phần lớn là súng kíp, giáo mác, lựu đạn tự tạo, nhưng tinh thần thì không bao giờ lùi bước. Có những đồng đội của tôi đã ngã xuống ngay trên mảnh đất quê hương. Khi chôn cất họ, chúng tôi chỉ có thể dùng cành cây làm dấu, thầm hứa sẽ tiếp tục chiến đấu thay phần của những người đã hy sinh.

Điều khiến tôi không bao giờ quên chính là tình quân – dân trong kháng chiến. Bà con Vân Bán sẵn sàng nhường từng bát cơm, giấu cán bộ trong hầm bí mật ngay dưới gầm giường, dù biết rằng nếu bị phát hiện thì cả gia đình có thể bị giết. Có lần nhà tôi bị giặc đốt cháy vì nghi ngờ nuôi giấu du kích. Mẹ tôi nhìn ngôi nhà đổ nát mà chỉ nói một câu: “Nhà cháy còn dựng lại được, chứ nước mất thì không lấy lại được.” Câu nói ấy theo tôi suốt đời. Những năm tháng kháng chiến trôi qua trong gian khổ, đói rét, hiểm nguy luôn cận kề, nhưng cũng chính trong hoàn cảnh ấy, tôi hiểu rõ nhất thế nào là lòng yêu nước, là sự hy sinh vì cái chung. Khi nghe tin chiến thắng, tôi đứng lặng rất lâu. Mừng vì đất nước giành được độc lập, nhưng lòng cũng quặn thắt khi nghĩ đến những đồng đội đã không còn cơ hội trở về quê hương. Giờ đây, khi tuổi đã cao, mỗi lần kể lại những năm tháng trực tiếp tham gia kháng chiến, tôi vẫn thấy tim mình rung lên. Tôi tự hào vì đã được góp một phần nhỏ bé cho quê hương Vân Bán và cho Tổ quốc. Tôi chỉ mong thế hệ trẻ hôm nay sẽ luôn ghi nhớ lịch sử, trân trọng hòa bình, sống và cống hiến xứng đáng với máu xương của các thế hệ cha anh đi trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn