Câu chuyện lịch sử về cụ Huỳnh Thúc Kháng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp
-Cụ Huỳnh Thúc Kháng ((1/10/1876-1/10/2026) là một chí sĩ yêu nước, nhà hoạt động chính trị, nhà báo và nhà lãnh đạo có uy tín, cụ đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân. -Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh đầu tiên, "người Anh Cả" của Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những huyền thoại của lịch sử hiện đại Việt Nam thế kỷ XX.
150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Nhà chí sĩ trọn đời vì nước, vì dân
* Những cống hiến của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong phong trào Duy Tân
Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tên gọi lúc nhỏ là Huỳnh Văn Thước, sau đi học gọi là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng).

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)
Vốn nổi tiếng thông minh, học giỏi, ham hiểu biết, sớm có chí hướng và đạt thành tích cao trong các kỳ thi. Năm 1900, Cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương và từ đây lấy tên gọi là Huỳnh Thúc Kháng; năm 1904, đỗ Tiến sĩ.
Sau khi đỗ Tiến sĩ năm 1904, cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà cùng các sĩ phu yêu nước Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp tích cực tham gia phong trào Duy Tân. Cụ sớm trở thành một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào yêu nước và canh tân ở Trung Kỳ, chủ trương cứu nước bằng khai dân trí, chấn dân khí, phát triển dân sinh; đồng thời đề cao tư tưởng dân quyền, thúc đẩy cải cách giáo dục, phát triển kinh tế và đổi mới xã hội.
Trong hoạt động Duy Tân, cụ Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng việc nâng cao nhận thức của Nhân dân. Cụ tích cực tuyên truyền, diễn thuyết ở nhiều nơi, vận động Nhân dân từ bỏ lối học khoa cử, chú trọng thực học, học chữ Quốc ngữ, tiếp thu tư tưởng tiến bộ và mở mang tri thức. Cụ cùng các sĩ phu tiến bộ vận động mở trường tân học, khuyến khích học tập, phát triển thương nghiệp, lập thương hội, cổ vũ sản xuất và thực nghiệp. Qua đó, một phong trào cải cách xã hội từng bước hình thành và lan rộng ở Quảng Nam và các tỉnh Trung Kỳ.
Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng, khai trí phải gắn với chấn hưng kinh tế và cải thiện đời sống Nhân dân. Cụ tích cực giao lưu, bàn bạc với những người cùng chí hướng, trong đó có Phan Bội Châu và Nguyễn Thành, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các tổ chức, cơ sở Duy tân ở Quảng Nam. Trong các hoạt động tuyên truyền, cụ tập trung vào những vấn đề thiết thực: khai trí, phát triển kinh tế, thực hành tiết kiệm, cải tiến đời sống, đề cao thực học và tiếp thu văn hóa, tri thức phương Tây. Hoạt động của cụ có ảnh hưởng sâu rộng, góp phần đưa tư tưởng duy tân từ phạm vi một bộ phận sĩ phu tiến bộ trở thành một phong trào xã hội có sức lan tỏa.

Du khách tham quan không gian nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạch Bình, thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Trần Tĩnh - TTXVN
Năm 1905, cụ cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp có những hoạt động sôi nổi tại trường thi Bình Định, thể hiện rõ thái độ phản đối lối học từ chương, đề cao thực học và tinh thần canh tân. Những hoạt động này tạo nên nét nổi bật của phong trào Duy Tân ở Quảng Nam, trong đó cụ là một trong những người tổ chức, tuyên truyền và thúc đẩy quan trọng.
Năm 1908, phong trào Duy Tân và phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp mạnh mẽ. Ngày 24/2/1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt và giải về nhà lao Hội An. Dù bị giam cầm, tra hỏi, cụ vẫn giữ vững khí tiết. Tháng 6/1908, cụ bị kết án đày ra Côn Đảo; đến tháng 9/1908, Cụ bị đưa ra đảo, bắt đầu 13 năm lưu đày.
Trong 13 năm bị giam cầm tại Côn Đảo (1908-1921), dù bị tước đoạt tự do và chịu lao động khổ sai, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn duy trì tinh thần học tập, trao đổi tư tưởng và hoạt động cùng các tù nhân chính trị. Cụ cùng các chí sĩ tổ chức ngâm thơ, xướng họa, bàn luận thời cuộc, giúp các tù nhân giữ vững tinh thần, củng cố tình đoàn kết và nuôi dưỡng ý chí đấu tranh. Cụ tích cực tự học tiếng Pháp, nghiên cứu sách báo, tìm hiểu tình hình thế giới, đồng thời sáng tác văn thơ thể hiện lòng yêu nước. Cùng Phan Châu Trinh và Phan Thúc Duyện, Cụ tham gia viết tuồng Trưng Vương, thể hiện tư tưởng yêu nước và khát vọng bình quyền.
Tháng 2/1921, sau 13 năm lưu đày, Cụ được trả tự do, khép lại một chặng đường gian khổ nhưng làm nổi bật bản lĩnh, tư tưởng canh tân và tinh thần yêu nước không khuất phục.
* Những đóng góp trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm báo Tiếng Dân
Trở về quê hương năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục hoạt động yêu nước bằng những hình thức phù hợp với hoàn cảnh mới. Trong giai đoạn 1921-1943, trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm, chủ bút báo Tiếng Dân, cụ tích cực đấu tranh đòi dân quyền, dân sinh, cải cách chính trị và bảo vệ lợi ích dân tộc.
Cụ sử dụng nghị trường làm diễn đàn công khai nêu ý kiến của Nhân dân, yêu cầu chính quyền thực dân thay đổi chính sách cai trị. Cụ và các dân biểu tiến bộ đề xuất ban hành hiến pháp, mở rộng quyền tự do dân chủ, phân định quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, mở rộng quyền hạn của Viện Dân biểu, trao quyền bầu cử cho người đóng thuế. Dù nằm trong khuôn khổ chế độ bảo hộ, những đề xuất ấy cho thấy rõ yêu cầu cải tổ cơ cấu cai trị và mở rộng quyền tham gia chính trị của người dân. Nhận rõ giới hạn của Viện Dân biểu và sự can thiệp của chính quyền thực dân, Cụ kiên quyết từ chức năm 1928.

Khách tham quan không gian nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạch Bình, thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Trần Tĩnh - TTXVN
Cùng với hoạt động nghị trường, cụ Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng hoạt động báo chí. Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên do Cụ làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tờ báo tồn tại liên tục 16 năm (1927-1943) với 1.766 số, giữ tiếng nói độc lập và tôn chỉ cải cách, không xu phụ nhà cầm quyền. Báo phản ánh những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, nhất là tình trạng áp bức, bóc lột, thuế khóa và bất công. Cụ yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh; những vấn đề đã kiểm chứng thì dù chịu sức ép vẫn kiên quyết đăng.
Năm 1933, khi thực dân Pháp lập nhà đày Buôn Ma Thuột, Tiếng Dân đã đăng các bài viết do tù chính trị bí mật gửi ra để tố cáo chế độ tù đày. Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936-1939, báo tiếp tục cổ vũ các yêu cầu về dân sinh, dân chủ, đăng bài của nhà báo Pháp A. Viôlít phê phán chế độ cai trị áp bức. Ngày 14/9/1936, Cụ công bố thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ và bản thỉnh cầu tháng 9/1936, đưa Tiếng Dân trở thành diễn đàn quan trọng của phong trào vận động dân chủ.
Từ tháng 7/1938, trước tranh chấp Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật, Tiếng Dân đăng loạt bài của Sử Bình Tử (tức cụ Huỳnh Thúc Kháng) khẳng định Hoàng Sa thuộc nước Nam. Cụ viện dẫn các tư liệu lịch sử về Đội Hoàng Sa, hoạt động khai thác sản vật của người Việt và đặc biệt là "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn. Việc đưa vấn đề Hoàng Sa lên báo thể hiện rõ ý thức bảo vệ chủ quyền và trách nhiệm đối với lãnh thổ quốc gia.
Năm 1939, cụ xuất bản Thi tù tùng thoại, tập hợp thơ và ghi chép bằng chữ Hán thời gian ở Côn Đảo, chứa nhiều tư liệu lịch sử có giá trị về các phong trào Đông Du, Duy Tân.
Báo Tiếng Dân chịu chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt của Phủ Khâm sứ Trung Kỳ. Có những bài biết chắc sẽ bị cắt nhưng cụ vẫn đưa kiểm duyệt; phần bị cắt được để trống trên mặt báo để độc giả nhận biết sự can thiệp của nhà cầm quyền, quyết không biến sự kiểm duyệt của chính quyền thành sự tự kiểm duyệt của người làm báo. Ngày 24/4/1943, lo ngại trước ảnh hưởng của báo, thực dân Pháp đã đình bản Tiếng Dân. Cụ Huỳnh Thúc Kháng viết bài thơ Tiếng Dân bị đình bản ngày 24/4/1943 để ghi lại sự kiện này.
Từ nghị trường đến báo chí, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhất quán theo đuổi mục tiêu bảo vệ quyền lợi Nhân dân, đấu tranh cho dân quyền, dân sinh và cải cách xã hội, khẳng định bản lĩnh của một chí sĩ yêu nước và nhà báo kiên định.
* Những đóng góp của cụ trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Quyền Chủ tịch nước
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cụ trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 2/3/1946, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ và đánh giá cụ là “một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”. Sự tham gia của cụ - một chí sĩ lão thành không phải đảng viên cộng sản - thể hiện sâu sắc chính sách đại đoàn kết dân tộc và trọng dụng nhân tài của Chính phủ cách mạng.
Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Cụ phụ trách củng cố chính quyền, xây dựng bộ máy hành chính, công vụ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự trị an. Ngày 22/3/1946, Cụ đề nghị cử ông Hoàng Minh Giám làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ và ông Phạm Khắc Hòe làm Đổng lý Văn phòng Bộ để kiện toàn bộ máy. Cụ cũng tham gia các nhiệm vụ đối ngoại quan trọng như Ủy ban nghiên cứu đặc biệt phục vụ Hội Hội nghị Fontainebleau. Với uy tín của mình, Cụ còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao tiếp xúc với các vị khách nước ngoài, trong đó có các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc, góp phần nâng cao vị htế của Chính phủ Việt Nma Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) thành lập, cụ được bầu làm Hội trưởng, góp phần tập hợp rộng rãi nhân sĩ, trí thức, các tầng lớp xã hội, tôn giáo cùng tham gia kháng chiến, kiến quốc.
Đặc biệt, ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82/SL ủy nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng điều hành công việc Chính phủ. Trước khi sang Pháp đàm phán, Bác Hồ nói rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ dĩ bất biến ứng vạn biến”.
Từ ngày 31/5 đến 21/10/1946, trên cương vị Quyền Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã bình tĩnh, khôn khéo chèo lái con thuyền cách mạng. Cụ kiên quyết trừng trị các thế lực phản động (như vụ án phố Ôn Như Hầu), giữ vững trật tự an ninh, bảo vệ chính quyền non trẻ. Trở về sau chuyến đi Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao sự lãnh đạo sáng suốt của Quyền Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng trong việc giải quyết nhiều việc khó khăn của đất nước.
Cuối năm 1946, khi nguy cơ chiến tranh toàn quốc cận kề, Bộ Nội vụ tích cực chuẩn bị phương án di chuyển, tản cư các cơ quan Trung ương. Trong hoàn cảnh ấy, dù tuổi cao sức yếu, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn hăng hái nhận nhiệm vụ thay mặt Chính phủ đi kinh lý miền Trung, vào Quảng Ngãi động viên đồng bào, chiến sĩ kháng chiến.
Trong chuyến đi, cụ lâm bệnh nặng. Trước lúc qua đời, Cụ gửi điện văn tạ từ Chủ tịch Hồ Chí Minh và kêu gọi các đảng phái, tôn giáo, đồng bào đoàn kết chung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh để cứu nước. Ngày 21/4/1947, cụ qua đời tại Quảng Ngãi.
Những tác phẩm cuối đời như "Thư kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến" và "Chào vĩnh quyết" cho thấy sự nhất quán tư tưởng của Cụ. Tinh thần “đồng tâm nhất trí”, không phân biệt giai tầng, đảng phái để bảo vệ Tổ quốc chính là sự phát triển cao nhất của tư tưởng đại đoàn kết mà cụ theo đuổi suốt đời. Cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại bài học sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức: yêu nước phải gắn với hành động, thương dân phải thể hiện bằng việc làm và luôn đặt lợi ích chung của dân tộc lên trên hết. Đó là những giá trị làm nên nhân cách và sức sống lâu bền của một chí sĩ đã trọn đời vì nước, vì dân.
115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Nhà quân sự thiên tài, nhà văn hóa lớn
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh đầu tiên, "người Anh Cả" của Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những huyền thoại của lịch sử hiện đại Việt Nam thế kỷ XX. Không chỉ lừng danh là một vị tướng thiên tài của thời đại, ông còn được biết đến là một vị tướng tài đức, văn võ song toàn, một nhà chính trị vì dân. Đạo đức cách mạng và những cống hiến xuất sắc của Đại tướng mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như những bản hùng ca đẹp nhất và sẽ mãi vững bền cùng mỗi bước đi của dân tộc.
Nhà chiến lược quân sự kiệt xuất
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lê Thủy, tỉnh Quảng Bình, nay là xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị. Chính mảnh đất quê hương giàu truyền thống cách mạng và anh hùng đã hun đúc nên nhân cách "Người Anh Cả" của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.
Đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh dìu dắt, giao nhiệm vụ, người thanh niên Võ Nguyên Giáp đã tích cực hoạt động cách mạng, bám dân, bám địa bàn, xây dựng cơ sở, mở lớp huấn luyện quân sự tại căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Tháng 12 năm 1944, ông được Lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch quân sự cho chiến dịch Biên giới 1950. Ảnh: Đinh Đăng Định - TTXVN phát
Trên các cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thành viên Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân, ông đã có những đóng góp quan trọng trong các quyết sách chiến lược của Đảng, chỉ đạo các lực lượng vũ trang, cùng toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, trong tình thế ngặt nghèo, đồng chí Võ Nguyên Giáp tiếp tục được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng, giao đặc trách vấn đề quân sự, sau đó cử làm Tổng Tư lệnh Quân đội và vinh dự được phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của Quân đội ta (1948).
Đại tướng tham mưu cho Trung ương Đảng phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân (dân quân du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực), trong đó đặc biệt chú trọng vai trò của bộ đội chủ lực; đồng thời, trực tiếp tổ chức mở rộng, phát triển lực lượng vũ trang cả về số lượng, chất lượng, quy mô tổ chức, trình độ, khả năng chiến đấu; chỉ đạo phát triển chiến tranh du kích, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, tiến hành nhiều trận đánh quan trọng quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đại tướng, bộ đội chủ lực không ngừng phát triển, lớn mạnh, thành lập các đại đoàn, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích, tạo sức mạnh tổng hợp tổ chức các chiến dịch có tính chất quyết định về chiến lược, tiêu hao, tiêu diệt lớn quân địch.
Không chỉ là một nhà cầm quân, ông là vị Đại tướng luôn "biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh". Những đức tính và tinh thần đó được thể hiện sâu sắc trong "quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời" của Đại tướng, là tiếp tục hay thay đổi phương châm tác chiến trong Chiến dịch Điện Biên Phủ khi giờ nổ súng dự kiến đã cận kề. Cuối cùng, Đại tướng đã lựa chọn thay đổi, từ phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" để đảm bảo chiến thắng và giảm thiểu tổn thất cho quân đội ta. Với quyết định sáng suốt này, quân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân Pháp, giành được thắng lợi cao nhất với sự hy sinh xương máu thấp nhất. Trong tư tưởng của Đại tướng, bảo vệ lực lượng, bảo vệ sinh mạng người lính của mình là mối quan tâm thường trực nhất, vì với ông: "một chiến thắng lớn nhất là chiến thắng có được với số người phải hy sinh nhỏ nhất".

Ngày 12/2/1971, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện thân mật với các Anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra miền Bắc dự Lễ kỷ niệm lần thứ 10 Ngày thống nhất các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam. Ảnh: Ngọc Khanh – TTXVN
Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị là người đứng đầu Quân đội, cùng với Bộ Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược. Sớm nhận ra tầm quan trọng của việc chi viện chiến lược cho cách mạng miền Nam, Đại tướng đề xuất với Trung ương và trực tiếp chỉ đạo xây dựng, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, mở Đường Hồ Chí Minh trên biển nhằm tiếp tế hàng quân sự và binh khí kỹ thuật nhanh chóng, kịp thời cho chiến trường miền Nam. Đại tướng đã cùng tập thể Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu cho Đảng mở Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh để ghìm lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc chiến trường miền Nam (tức Trị Thiên), tạo điều kiện thuận lợi để quân dân miền Nam tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tiêu diệt địch trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn-Gia Định, Huế, Đà Nẵng; chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân xây dựng phương án, tổ chức đánh bại cuộc tiến công đường không chiến lược (1972) của Mỹ, bảo vệ vững chắc bầu trời Hà Nội, Hải Phòng... giữ vững hậu phương chiến lược chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Đại tướng chỉ đạo Bộ tư lệnh chiến dịch điều Sư đoàn 968 từ Nam Lào về tổ chức nghi binh ở Pleiku (Bắc Tây Nguyên); bí mật cơ động Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A từ Bắc Tây Nguyên về hướng chính (Nam Tây Nguyên) phối hợp với Sư đoàn 316 thần tốc từ miền Bắc vào bố trí thế trận, bất ngờ đột phá Buôn Ma Thuột mở màn chiến dịch, tổ chức cắt giao thông, sẵn sàng đánh địch phản kích ứng cứu Buôn Ma Thuột, làm cho địch hoảng loạn, buộc phải rút chạy khỏi Tây Nguyên.
Đặc biệt, Đại tướng đã nắm chắc thời cơ chiến lược, đề nghị giải phóng sớm miền Nam (1975) so với kế hoạch ban đầu; chỉ đạo mở Chiến dịch Huế-Đà Nẵng; giải phóng quần đảo Trường Sa; thành lập cánh quân phía Đông Sài Gòn phối hợp với 4 cánh quân khác và ra mệnh lệnh: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa...", kịp thời xốc tới bao vây, tiến công tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc đến toàn thắng.
Từ Phay khắt - Nà Ngần tới chiến dịch Điện Biên Phủ - Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khiến cả thế giới nhận ra ông không chỉ có tài cầm quân, mà còn là nhà lý luận quân sự uyên thâm, tác giả hàng đầu về học thuyết quân sự Việt Nam hiện đại. Tư tưởng và lý luận của ông về vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng Quân đội Nhân dân, về khởi nghĩa vũ trang, về chiến tranh Nhân dân trong thời đại mới, không chỉ được người Việt Nam mà nhiều lãnh tụ và tướng lĩnh trên thế giới nghiên cứu, học tập.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương theo dõi diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Ảnh: TTXVN
Trong tác phẩm "Chiến thắng bằng mọi giá - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam", nhà sử học quân sự Mỹ Cecil B.Currey bày tỏ sự kính phục của mình: "Ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX, và một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại. Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân".
Nhà văn hóa lớn
Không chỉ tỏa sáng rực rỡ trong lĩnh vực quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là một trong những nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Ông là một vị tướng hiếm hoi trên thế giới đã thể hiện rõ nhất tính nhân văn của một người làm tướng, lấy võ nghiệp để thực hành triết lý nhân văn và tinh thần cống hiến của đời mình.
Khi là giáo viên dạy môn lịch sử tại trường tư thục Thăng Long, Hà Nội (tháng 5/1939), thầy giáo Võ Nguyên Giáp đã mang bầu nhiệt huyết cách mạng của mình để cùng với đồng nghiệp truyền thụ cho học sinh lòng yêu nước thương dân, khơi dậy sự nhiệt huyết và trách nhiệm với quê hương, đất nước. Khi đất nước bước vào thời kỳ kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, Đại tướng đã nhiều lần phát biểu những ý kiến tâm huyết của mình để chấn hưng nền giáo dục nước nhà.
Ở lĩnh vực báo chí, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà báo chính luận sắc sảo từ khi còn rất trẻ. Bài báo đầu tiên của ông bằng tiếng Pháp được gửi đăng trên tờ báo L'Annam ngày 24/3/1927 do Luật sư Phan Văn Trường ở Sài Gòn làm chủ nhiệm với tựa đề "Đả đảo tên tiểu bạo chúa ở trường Quốc học!" đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với người làm báo lúc bấy giờ. Lúc đó ông mới 16 tuổi. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936-1939, ông thành lập báo "Hồn trẻ"; cùng một số đồng chí sáng lập và tham gia viết báo cho các tờ báo công khai hồi đó, như: Tiếng dân, Tiếng nói của chúng ta, Lao động, Tiến lên, Tập hợp…; cùng Tổng Bí thư Trường Chinh biên soạn tác phẩm "Vấn đề dân cày", có giá trị lớn cho công tác chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta lúc bấy giờ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại buổi tiếp thân mật các thiếu nhi đến thăm Đại tướng tại tư gia, ngày 7/5/2004, nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh: Đình Trân/TTXVN
Trên lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà tổng kết lịch sử hàng đầu của nền sử học đương đại Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tham dự vào thế kỷ XX như một con người "làm nên lịch sử" theo cả nghĩa là một nhân vật của lịch sử và một người viết sử. Bởi lẽ ông vừa là một nhà hoạt động chính trị rồi trở thành một vị tướng hàng đầu trong lịch sử chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam. Rồi chính ông trở thành một nhà tổng kết lịch sử hàng đầu của nền sử học đương đại Việt Nam. Từ những bài viết về dân cày, về cách mạng tư sản Pháp và nhiều vấn đề có liên quan đến lịch sử trên các tờ báo đến những bài dạy sử trên bục giảng trường Thăng Long cho đến hàng trăm bài nói về lịch sử vào những dịp kỷ niệm các danh nhân hoặc sự kiện lịch sử hay các hội thảo khoa học... đều là những thông tin, tư liệu, tài liệu về lịch sử vô cùng quý giá. Từ các bài tổng kết chiến tranh đến những công trình lý luận về quân sự, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về hai cuộc kháng chiến và đặc biệt là bộ Tổng tập hồi ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều là những công trình khoa học về những sự kiện lịch sử quan trọng nhất của nửa sau thế kỷ XX.
Trên lĩnh vực ngoại giao, ông cũng có những đóng góp rất quan trọng. Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đứng trước những khó khăn bộn bề, vận mệnh dân tộc được ví như "ngàn cân treo sợi tóc", Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều nhiệm vụ đối ngoại đặc biệt, như: tiếp xúc với Phái bộ Mỹ mới sang Việt Nam, hay cuộc "chạm trán" với J. Xanhtơny tại phòng lớn của Phủ Toàn quyền, chuẩn bị tiến tới Hiệp định ngày 6/3/1946, cũng như gặp gỡ tướng Lơcléc sau khi ký Hiệp định Sơ bộ, hay cuộc đấu trí và đấu lý ở Hội nghị Đà Lạt… những cuộc gặp gỡ đó, ông đã không bỏ bất kỳ cơ hội đàm phán nào để đi đến hòa bình nhằm thực hiện mục tiêu cao cả: độc lập và thống nhất đất nước.

Hội thảo khoa học: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Nhà chiến lược quân sự kiệt xuất của thế kỷ XX". Ảnh: Văn Điệp – TTXVN
Với phong trào cách mạng thế giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có những đóng góp rất quan trọng, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, chống áp bức, bóc lột, bất công ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh. Điều này đã được các nhân vật, lực lượng chính trị và xã hội ở nhiều nước thừa nhận.
Sự hòa quyện giữa binh nghiệp và văn hóa, giữa võ và văn đã tạo nên một nhân cách VÕ NGUYÊN GIÁP. Nhân cách đó đã được đúc kết qua câu đối của nhà giáo Hồ Cơ tặng Đại tướng nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của ông: "Văn lo việc nước, Văn thành Võ/ Võ thấu lòng dân, Võ hóa Văn!"
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là minh chứng sống động cho sự kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần nhân văn Việt Nam. Ông không chỉ là vị tướng tài ba với những chiến công hiển hách mà còn là tấm gương lớn về đạo đức, lòng nhân ái và tình yêu nước. Suốt sự nghiệp quân sự của mình, Đại tướng luôn khiêm tốn và bao dung. Ông thường nhấn mạnh rằng mọi chiến thắng đều là công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Nhân dân Việt Nam. Khi được hỏi về vị tướng mà ông kính trọng nhất, Đại tướng đáp: Các vị tướng dù có công lao to lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có Nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ... Vị tướng tôi đánh giá cao nhất là Tướng Nhân dân.
Trải qua hơn 80 năm hoạt động cách mạng phong phú, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại tướng đã nêu cao tấm gương sáng ngời của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, tuyệt đối trung thành, suốt đời tận tụy hy sinh, một lòng, một dạ phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Dù trong lúc cách mạng gặp thuận lợi hay khó khăn, Đại tướng luôn tuyệt đối tin tưởng, thủy chung, son sắt với Đảng, với Nhân dân, đúng như lúc sinh thời Đại tướng đã từng nói: "Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó". Đại tướng luôn thấm nhuần và thực hành mẫu mực tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; luôn giữ gìn phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, lấy "dĩ công vi thượng" và lợi ích của Đảng, của đất nước và nhân dân lên trên hết, trước hết.
Với những cống hiến to lớn, đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên nhiều phương diện, cuộc đời Đại tướng Võ Nguyên Giáp là biểu tượng sáng ngời của một nhân cách văn hóa lớn, thanh cao, liêm khiết, giản dị và bao dung. Tấm gương ấy đã khắc sâu vào lòng nhân dân, được nhân dân tin yêu với danh xưng vị tướng của nhân dân. Di sản của Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường, tiếp thêm niềm tin và khát vọng cho các thế hệ Việt Nam trên hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


