CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ VỀ NHÂN VẬT HÀ THỊ QUẾ
Đồng chí Hà Thị Quế là cán bộ Việt Minh ngay từ ngày Mặt trận Việt Minh được thành lập, là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa 1955 – 1960, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa I – khóa thống nhất các tổ chức Mặt trận hai miền sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng; là đại biểu Quốc hội các khóa II, III, IV, V và VI; là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III và IV; là Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

BÀ HÀ THỊ QUẾ – “NỮ TƯỚNG VIỆT MINH”
Bà Hà Thị Quế, tên thật là Lương Thị Hồng, sinh ngày 15/8/1921 tại xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Bà sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và cách mạng, đồng thời là hậu duệ của Trạng nguyên, nhà toán học nổi tiếng Lương Thế Vinh. Ngay từ nhỏ, bà đã được giáo dục trong môi trường giàu truyền thống yêu nước, góp phần hình thành tinh thần cách mạng và ý chí kiên cường của người nữ cán bộ sau này.
Không chỉ thông minh, chăm học và thường đứng trong tốp đầu của lớp, bà còn có khả năng võ thuật, khiến bạn bè nể phục. Đặc biệt, cả bố, mẹ và chú ruột của bà đều là những đảng viên cộng sản đầu tiên của tỉnh Ninh Bình. Chính truyền thống gia đình đã có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình trưởng thành và con đường hoạt động cách mạng của bà.
Từ năm 14 tuổi, bà đã tham gia hoạt động xã hội, làm giáo viên cho Hội Cứu tế do cha và chú ruột thành lập nhằm hưởng ứng chủ trương đoàn kết các lực lượng dân chủ, các tầng lớp nhân dân trong phong trào Đông Dương Đại hội. Năm 17 tuổi, bà tham gia Phường Cấy, một tổ chức tập hợp phụ nữ yêu nước tại địa phương. Sau đó, bà lần lượt đảm nhiệm các chức vụ như Bí thư Phụ nữ phản đế, Bí thư Đoàn Thanh niên phản đế và Bí thư Hội Phụ nữ cứu quốc xã.
Năm 1940, khi mới 19 tuổi, bà được cử tham gia lớp quân sự do Xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức tại Hiệp Hòa, Bắc Giang. Đến năm 1941, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, chính thức bước vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.
Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và tình hình cách mạng Đông Dương có nhiều biến động, nhiệm vụ giải phóng dân tộc ngày càng trở nên cấp thiết. Thực hiện chủ trương của Đảng, bà được điều động đến Thái Bình, tham gia Ban Cán sự Tỉnh ủy và trực tiếp phụ trách hai huyện Kiến Xương, Tiền Hải, nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh. Bà cũng từng được điều động sang Nam Định để góp phần khôi phục phong trào sau những đợt khủng bố của địch.
Tháng 4/1944, bà được phân công lên An toàn khu II (ATK II), phụ trách ba huyện Hiệp Hòa, Phú Bình và Phổ Yên. Sau đó, trước yêu cầu tăng cường lực lượng cán bộ cho Bắc Giang, bà tiếp tục được điều về hoạt động tại Yên Thế.
Tháng 6/1945, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang được thành lập, do đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh làm Bí thư. Bà Hà Thị Quế được giao phụ trách công tác quân sự tại các huyện Yên Thế, Việt Yên và một phần huyện Lạng Giang. Trên cương vị này, bà tổ chức cho các đoàn thể như Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc và Phụ nữ cứu quốc tham gia luyện tập quân sự, xây dựng các đội du kích tập trung, đồng thời chỉ đạo nhiều hoạt động vũ trang nhằm thu vũ khí của địch để phục vụ cách mạng.
Với sự dũng cảm, mưu trí và khả năng tổ chức lực lượng, bà đã góp phần chỉ huy nhiều trận đánh, hoạt động trừ gian, diệt phỉ, chống thực dân Pháp và phát xít Nhật, bảo vệ căn cứ cách mạng tại vùng núi rừng Yên Thế. Những hoạt động ấy khiến kẻ thù phải dè chừng và cũng là lý do bà được gọi bằng cái tên “Nữ tướng Việt Minh”.
Bà là đại biểu nữ duy nhất của tỉnh Bắc Giang được cử tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, đồng thời trực tiếp tham gia tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền tại Yên Thế. Để ghi nhớ những đóng góp của bà trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại chùa Nam Thiên, thị trấn Nhã Nam, có tấm bia ghi hai câu:
“Yên Thế lừng danh Hà Thị Quế,
Nhã Nam bất khuất đất anh hùng”.
Không chỉ là một cán bộ cách mạng kiên cường trong chiến đấu, bà Hà Thị Quế còn có những câu chuyện đời thường rất gần gũi. Trong một lần trò chuyện với các cán bộ Mặt trận từng làm việc cùng mình, bà kể lại chuyện kết hôn với đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh. Bà từng đùa rằng mình không sợ kẻ thù trên chiến trường nhưng lại khá lo lắng khi về làm dâu trong một gia đình coi trọng lễ nghĩa, bởi bà xuất thân từ vùng chiêm trũng, còn gia đình chồng ở Đình Bảng vốn có truyền thống lâu đời.
Trong lần đầu về ra mắt mẹ chồng tương lai, bà được đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh giới thiệu vui là “cô thợ cấy”. Tuy nhiên, câu nói đùa của bà mẹ chồng tương lai rằng làng không thiếu “gái sắc”, vậy mang “cô thợ cấy” về làm gì, đã khiến bà cảm thấy bị xúc phạm và bỏ đi. Phải mất bốn tháng thuyết phục, hai người mới có thể hóa giải hiểu lầm và tiến tới hôn nhân. Sau này, bà có sáu người con với đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh.
Kể lại câu chuyện ấy, bà còn nhắn nhủ lớp trẻ rằng khi yêu và lập gia đình, mỗi người cần biết lựa lời khi nói chuyện, tránh những câu đùa vô tình làm tổn thương người khác. Câu chuyện cho thấy phía sau hình ảnh một nữ cán bộ mạnh mẽ, quyết đoán vẫn là một người phụ nữ có tình cảm, lòng tự trọng và những suy nghĩ giản dị về cuộc sống gia đình.
Sau Cách mạng tháng Tám, bà tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách trong phong trào phụ nữ và nông dân. Năm 1950, tại Đại hội thống nhất các tổ chức phụ nữ, bà được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân cứu quốc và được phân công làm Phó ban Nông nghiệp Trung ương.
Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, bà được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đến Đại hội IV năm 1976, bà tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đảm nhiệm cương vị Phó ban Kiểm tra Trung ương. Trong công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng, bà được nhiều đồng chí đánh giá là người có nguyên tắc, thẳng thắn và nghiêm túc, nhưng cũng biết cân nhắc hoàn cảnh cụ thể của từng trường hợp.
Đối với phong trào phụ nữ, năm 1961, tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, bà được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, phụ trách phong trào. Tháng 3/1974, tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV, bà được bầu làm Hội trưởng, kế nhiệm đồng chí Nguyễn Thị Thập.
Trong thời gian tham gia lãnh đạo phong trào phụ nữ, bà có những đóng góp quan trọng trong việc tổ chức, vận động phụ nữ tham gia lao động sản xuất, xây dựng miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Những phong trào như “Ba đảm đang” và “Năm tốt” đã góp phần phát huy vai trò của phụ nữ trong điều kiện đất nước có chiến tranh, đồng thời thể hiện tinh thần trách nhiệm của người phụ nữ đối với gia đình và xã hội.
Bên cạnh hoạt động trong Đảng và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bà còn được nhân dân tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội liên tiếp năm khóa, từ khóa II đến khóa VI, trong giai đoạn 1960–1981. Trong 21 năm tham gia Quốc hội, bà từng đảm nhiệm các vị trí liên quan đến công tác nông thôn, kiểm tra và kế hoạch, ngân sách. Qua đó, bà có những đóng góp vào hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước và công cuộc xây dựng đất nước.
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ thống nhất. Ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định về việc thống nhất các đoàn thể nhân dân và tổ chức Mặt trận trong cả nước. Thực hiện chủ trương này, từ ngày 10 đến ngày 12/6/1976, Hội nghị thống nhất Hội Liên hiệp Phụ nữ toàn quốc được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội nghị quyết định thống nhất tổ chức phụ nữ trên cả nước với tên gọi Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và bầu bà Hà Thị Quế làm Chủ tịch Hội, đồng chí Nguyễn Thị Định làm Phó Chủ tịch thứ nhất. Đồng chí Nguyễn Thị Thập được suy tôn làm Chủ tịch danh dự. Đây là một dấu mốc quan trọng trong quá trình củng cố tổ chức Hội, đáp ứng yêu cầu của đất nước sau ngày thống nhất.
Một kỷ niệm đáng nhớ về bà trong thời gian diễn ra hội nghị cũng được một cán bộ Mặt trận kể lại. Sau buổi tiệc chiêu đãi do Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức để chúc mừng thành công của hội nghị và ban lãnh đạo mới, nhiều đại biểu phụ nữ gặp vấn đề về tiêu hóa do chưa quen với các món ăn địa phương. Khoảng nửa đêm, bà Hà Thị Quế vội vàng sang phòng đồng nghiệp, thông báo tình hình và đề nghị phối hợp báo cáo các đồng chí lãnh đạo để điều động xe đưa những người bị ảnh hưởng đi cấp cứu.
Câu chuyện tuy giản dị nhưng cho thấy sự nhanh nhẹn, tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm của bà đối với những người xung quanh. Dù ở cương vị lãnh đạo, bà vẫn trực tiếp lo lắng, xử lý công việc khi đồng nghiệp gặp khó khăn.
Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của bà Hà Thị Quế, có thể thấy bà là một nữ cán bộ trưởng thành từ phong trào cách mạng, từng trải qua nhiều thử thách và đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong Đảng, Quốc hội và phong trào phụ nữ Việt Nam. Từ những năm tháng hoạt động bí mật, tổ chức lực lượng du kích tại Yên Thế đến quá trình tham gia lãnh đạo phong trào phụ nữ và xây dựng đất nước, bà luôn thể hiện tinh thần kiên định, sự dũng cảm và trách nhiệm với công việc được giao.
Không chỉ được nhớ đến với danh hiệu “Nữ tướng Việt Minh”, bà còn để lại dấu ấn qua những đóng góp cho phong trào phụ nữ, sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước. Cuộc đời của bà là một câu chuyện đáng trân trọng về bản lĩnh, lòng yêu nước và sự cống hiến của người phụ nữ Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử nhiều biến động.
Bà Hà Thị Quế qua đời ngày 25/12/2012 tại Hà Nội, hưởng thọ 91 tuổi. Những đóng góp của bà vẫn là một phần đáng nhớ trong lịch sử cách mạng Việt Nam và phong trào phụ nữ nước ta.
Nhân dịp tưởng nhớ bà, việc tìm hiểu và ghi lại những câu chuyện về cuộc đời, sự nghiệp của bà không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về một nhân vật lịch sử mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và sự cống hiến cho cộng đồng.



