Bài viết

Câu Chuyện Lịch Sử Về Trần Hưng Đạo

Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn) là vị anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà quân sự kiệt xuất thế kỷ XIII. Ông có công lớn lãnh đạo quân dân Đại Việt ba lần đánh bại giặc Mông - Nguyên hùng mạnh, nổi tiếng với lòng yêu nước, mưu lược và tinh thần đặt việc nước lên trên thù nhà.

21/08/2026Lê Thị Ngọc Hân (Phường Long Thuận)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Câu Chuyện Lịch Sử Về Trần Hưng Đạo

Trần Hưng Đạo sinh ra trong hoàng tộc nhà Trần, là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Ngay từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, ham học, giỏi cả văn lẫn võ và luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích cá nhân.

Thế kỷ XIII, đế quốc Mông Cổ – Nguyên là lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới, chinh phục nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn ở châu Á và châu Âu. Đại Việt ba lần trở thành mục tiêu xâm lược.

Được vua Trần giao trọng trách Quốc công Tiết chế, Trần Hưng Đạo đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đoàn kết chống giặc. Ông đề ra nhiều chiến lược sáng tạo như "vườn không nhà trống", tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, kết hợp sức mạnh của quân đội và Nhân dân để làm tiêu hao lực lượng địch.

Đỉnh cao là trận Bạch Đằng năm 1288. Ông cho đóng hàng nghìn cọc gỗ lớn dưới lòng sông. Khi thủy triều lên, quân Nguyên tiến sâu vào trận địa. Đến lúc nước rút, thuyền chiến của địch mắc cạn vào bãi cọc. Quân Đại Việt từ nhiều hướng đồng loạt tiến công, tiêu diệt gần như toàn bộ đạo quân xâm lược, buộc quân Nguyên phải rút lui hoàn toàn.

Chiến thắng Bạch Đằng đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lần thứ ba, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt và trở thành một trong những chiến công hiển hách nhất trong lịch sử dân tộc.

Ngoài tài cầm quân, Trần Hưng Đạo còn để lại tác phẩm "Hịch tướng sĩ" – áng văn bất hủ khơi dậy lòng yêu nước, ý chí chiến đấu và tinh thần trách nhiệm của quân sĩ đối với non sông đất nước.

Sau khi qua đời, dân gian Việt Nam suy tôn ông thành Đức Thánh Trần (德聖陳), hay còn gọi là Cửu Thiên Vũ Đế (九天武帝). Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan ba cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1258, 1285 và năm 1287. Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là "Trần Hưng Đạo" thay cho cách gọi đầy đủ là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn", vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ông. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.

Là con của tôn thất An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu nội của Trần Thái Tổ, Trần Hưng Đạo có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần và vua Trần Nhân Tông gọi ông bằng bác. Năm 1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược. Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp. Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, nhà Nguyên (sau khi Mông Cổ thống nhất Trung Hoa) đe dọa đánh Đại Việt lần hai, Hưng Đạo vương được Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua Trần Nhân Tông (lần lượt là em họ và cháu họ ông) phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. Trên cương vị này, năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược do hoàng tử thứ chín Thoát Hoan. Sau những thất bại ban đầu, quân dân Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Hưng Đạo vương phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Trường Yên, Vạn Kiếp,... đánh đuổi hoàn toàn quân Nguyên khỏi biên giới.

Năm 1288, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Khi tiếp tục được phong Quốc công tiết chế; Hưng Đạo vương khẳng định với vua Trần Nhân Tông: "Năm nay đánh giặc nhàn". Ông đã áp dụng thành công chiến thuật của Ngô Quyền, đánh bại hoàn toàn thủy quân nhà Nguyên do các tướng Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi chỉ huy trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, buộc quân Nguyên lại phải rút về nước. Tháng 4 âm lịch năm 1289, Trần Nhân Tông chính thức gia phong ông làm "Đại vương" dù chức quyền đứng đầu triều đình khi đó vẫn thuộc về Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải.

Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp đến khi mất năm 1300. Trước lúc qua đời, ông khuyên Trần Anh Tông: "Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".[2] Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến ngày nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn