CÂU CHUYỆN: MẸ NGUYỄN THỊ TỈNH – NGƯỜI MẸ BÊN BẾN ĐÒ SÔNG LUỘC
Học sinh: Đỗ Trí Anh Thư
Lớp: 10I
Trường THPT Nguyễn Siêu
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
CÂU CHUYỆN: MẸ NGUYỄN THỊ TỈNH – NGƯỜI MẸ BÊN
BẾN ĐÒ SÔNG LUỘC
Bên dòng sông Luộc hiền hòa của tỉnh Hưng Yên ngày nay, có một bến đò nhỏ mang tên bến đò Bãi Sậy. Nơi đó, người dân vẫn kể lại câu chuyện về mẹ Nguyễn Thị Tỉnh, một người phụ nữ bình dị của làng Mễ, người đã sống trọn đời mình trong những năm tháng bão lửa, để rồi trở thành biểu tượng của sự kiên cường, hi sinh và lòng yêu nước của phụ nữ Hưng Yên.
Mẹ Tỉnh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Từ nhỏ, mẹ đã gắn bó với con đò, với những buổi sáng tinh mơ chèo đò sang bên bãi để đổi lấy nắm thóc, mớ rau. Chiến tranh nổ ra, sông Luộc trở thành tuyến vận chuyển quan trọng của lực lượng cách mạng. Đêm đêm, tiếng chèo đò lách cách trong sương mờ không chỉ đưa người qua sông, mà còn đưa cả những tài liệu, vũ khí, lương thực vượt qua sự truy lùng gắt gao của giặc.
Và người chèo con đò ấy chính là mẹ.
Mẹ có ba người con trai. Cả ba đều lớn lên giữa tiếng nước vỗ bờ và tiếng trống hội làng mỗi mùa xuân, nhưng khi đất nước gọi tên, cả ba đều tình nguyện ra trận. Ngày tiễn con, mẹ chỉ nắm tay từng đứa mà nói:
“Đi mạnh khỏe, giữ nước như giữ chính dòng sông quê mình.”
Những năm tháng ấy, mẹ Tỉnh không chỉ là người mẹ nơi hậu phương; mẹ là người giao liên thầm lặng của làng Mễ – bến Bãi Sậy. Dưới con mắt người dân, mẹ vẫn chỉ là người đàn bà chèo đò lam lũ. Nhưng với những chiến sĩ, mẹ là điểm tựa an toàn nhất khi đêm xuống, khi từng chiếc đò vượt qua lòng sông để chuyển tài liệu lên mật khu.
Có đêm, nước sông dâng cao, gió rét cắt da, giặc canh gác dày đặc, mẹ vẫn cầm chắc mái chèo. Áo tơi của mẹ dính đầy nước bùn, tay tê cứng vì lạnh. Một quả pháo sáng bay vụt lên, rọi xuống mặt sông khoảng sáng trắng lạnh. Mẹ lập tức cúi xuống, cho con đò lách sát bờ lau. Giặc nhìn qua, chỉ thấy bóng người phụ nữ quê mùa, chẳng mảy may nghi ngờ.
Có lần, giữa đêm khuya, giặc phục kích, chặn đò kiểm tra. Một tên lính gằn giọng hỏi mẹ đi đâu. Mẹ bình tĩnh đáp:
“Tôi đi đón mấy người đi làm đồng về trễ.”
Tên lính soi đèn vào thuyền, thấy toàn nơm, vó và vài bó củi mẹ cất sẵn. Chúng bỏ đi mà không biết rằng ngay dưới lớp củi ấy là gói tài liệu của đơn vị bộ đội khu vực Bãi Sậy.
Nhưng chiến tranh đâu chỉ thử thách lòng người, mà còn cướp đi những điều quý giá nhất.
Người con cả của mẹ hi sinh trong trận đánh tại mặt trận Vĩnh Phúc. Người con thứ hai ngã xuống ở chiến trường Quảng Trị. Người con út – đứa con mẹ yêu thương và lo lắng nhất – ra đi trong một trận truy kích ở Nam Bộ. Ba lần nhận tin dữ là ba lần tim mẹ như bị bóp nghẹt. Đêm ấy, bến đò Bãi Sậy chìm trong tiếng khóc của mẹ hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ vô tận.
Nhưng sáng hôm sau, mẹ vẫn chống đò sang sông. Người dân hỏi mẹ có cần nghỉ không, mẹ chỉ lắc đầu:
“Các con tôi nằm lại rồi. Mẹ còn đứng được ngày nào thì mẹ còn góp sức ngày ấy.”
Hòa bình lập lại, mẹ vẫn gắn bó với bến đò. Mỗi buổi chiều, mẹ mang bó nhang ra nghĩa trang liệt sĩ huyện, thắp lên từng ngôi mộ, xem những chiến sĩ ấy như chính con mình. Không ai bảo mẹ phải làm vậy. Mẹ chỉ nói:
“Thắp cho đỡ lạnh. Các con nó đi sớm quá...”
Năm mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cả làng Mễ kéo đến chúc mừng. Mẹ ngồi dưới mái hiên, đôi bàn tay run run đón tấm bằng, nhưng đôi mắt lại nhìn xa xăm ra bến sông. Mẹ bảo:
“Nếu các con tôi còn sống, chúng nó sẽ tự hào. Nhưng mẹ nhận danh hiệu này thay cho cả làng, thay cho bao nhiêu người mẹ khác cũng mất con như mẹ.”
Khi mẹ qua đời, bến đò Bãi Sậy ngập trong mùi khói hương. Dòng người tiễn mẹ đông đến lạ. Những người từng một lần được mẹ đưa đò trong đêm, những cựu chiến binh từng được mẹ cứu giúp, những đứa trẻ lớn lên bên câu chuyện của mẹ… tất cả đều đến. Họ bảo nhau rằng người phụ nữ gầy nhỏ ấy đã chèo đò cho không chỉ người qua sông, mà còn chèo cả một thế hệ sang bờ hòa bình.
Từ đó đến nay, mỗi khi chiều xuống, tiếng sóng sông Luộc vỗ bờ nhẹ như tiếng thở dài của mẹ Tỉnh. Người dân Hưng Yên vẫn kể câu chuyện đời mẹ như kể về một dòng sông – lặng lẽ, bền bỉ, nhưng sâu và rộng vô cùng.
Bởi chính mẹ là minh chứng rằng:
Trong chiến tranh, có những anh hùng không cầm súng, không ở chiến trường, nhưng trái tim họ đủ lớn để gìn giữ cả một giấc mơ hòa bình cho đất nước.



