Bài viết

CÂU CHUYỆN MỘT THỜI HOA LỬA LÊ THỊ RIÊNG – NGƯỜI NỮ ANH HÙNG KIÊN TRUNG, BẤT KHUẤT

Có những con người đã đi qua cuộc đời bằng những bước chân bình dị, nhưng khi đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân, hạnh phúc riêng tư và máu xương của mình cho Tổ quốc. Có những cuộc đời tuy khép lại giữa khói lửa chiến tranh, nhưng tinh thần và lý tưởng vẫn sống mãi trong lòng các thế hệ hôm nay. Anh hùng, liệt sĩ Lê Thị Riêng chính là một người phụ nữ như thế – người con ưu tú của quê hương Nam Bộ, người chiến sĩ cách mạng kiên trung, bất khuất, đã viết nên bản anh hùng ca bằng chính cuộc đời và sự hy sinh cao cả của mình.

Cà Mau13/10/2026Xã Phước Long (Đoàn xã Phước Long)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN MỘT THỜI HOA LỬA LÊ THỊ RIÊNG – NGƯỜI NỮ ANH HÙNG KIÊN TRUNG, BẤT KHUẤT

Lê Thị Riêng (1925–1968) sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Vĩnh Mỹ, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, nay thuộc tỉnh Cà Mau. Tuổi thơ của bà là những tháng ngày thiếu thốn, nhọc nhằn. Mẹ mất khi bà còn rất nhỏ, cuộc sống sớm đẩy cô gái bé bỏng vào cảnh phải lao động vất vả, tự lập và chịu nhiều thiệt thòi. Chính những năm tháng cơ cực ấy đã giúp bà thấu hiểu nỗi khổ của người lao động nghèo, đặc biệt là những người phụ nữ phải chịu nhiều bất công trong xã hội cũ.

          Từ mảnh đất quê hương giàu truyền thống yêu nước, ngọn lửa cách mạng dần nhen nhóm trong trái tim người con gái trẻ. Khoảng năm 1940, khi mới ở độ tuổi thiếu niên, bà được tiếp xúc với những người hoạt động cách mạng, từng bước giác ngộ lý tưởng đấu tranh vì độc lập dân tộc. Từ đó, cuộc đời Lê Thị Riêng rẽ sang một hướng đi mới: không cam chịu số phận, không chỉ nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình, bà lựa chọn con đường đấu tranh để góp phần giải phóng quê hương, đất nước.

          Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc. Lê Thị Riêng tham gia phong trào Phụ nữ Cứu quốc tại quê nhà, bắt đầu dấn thân vào hoạt động cách mạng bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Bà tích cực vận động phụ nữ tham gia các phong trào yêu nước, đoàn kết quần chúng, góp phần xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Tháng 3 năm 1946, bà tham gia công tác phụ nữ tại huyện Giá Rai và phong trào Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Rạch Giá. Đến năm 1947, bà được giao nhiệm vụ Đoàn trưởng Hội Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Rạch Giá, sau đó đảm nhiệm cương vị Phó Hội trưởng Hội Phụ nữ Cứu quốc miền Đông Nam Bộ. Năm 1948, bà vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; năm 1949, tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Phụ nữ Nam Bộ.

          Từ một cô gái nghèo nơi miền quê sông nước, Lê Thị Riêng đã trưởng thành thành một cán bộ phụ nữ có năng lực tổ chức, giàu kinh nghiệm vận động quần chúng và hết lòng vì phong trào cách mạng. Bà đi đến những nơi gian khó, gần gũi với nhân dân, động viên chị em phụ nữ vượt qua sợ hãi, tham gia đấu tranh, bảo vệ quê hương. Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, công việc ấy đòi hỏi lòng can đảm, sự khéo léo và một niềm tin sắt son vào con đường đã chọn. Đằng sau hình ảnh người nữ cán bộ kiên cường ấy còn là một người vợ, người mẹ với những tình cảm đời thường sâu nặng. Năm 1953, bà kết hôn với đồng chí Lê Văn Ba, còn gọi là Lê Trọng Tam, một cán bộ cách mạng. Hạnh phúc gia đình của bà không kéo dài trong những ngày sum họp bình yên, bởi nhiệm vụ cách mạng luôn đặt lên vai hai vợ chồng những trách nhiệm nặng nề.

          Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền. Trong khi nhiều người mong chờ ngày đoàn tụ, Lê Thị Riêng vẫn quyết định ở lại miền Nam, tiếp tục hoạt động cách mạng trong điều kiện bí mật và đầy hiểm nguy. Bà cùng chồng phải gửi hai con nhỏ ra miền Bắc để phục vụ nhiệm vụ cách mạng và bảo đảm điều kiện học tập, trưởng thành cho các con. Thử hỏi, có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của một người mẹ phải xa con khi các con còn thơ dại? Có sự hy sinh nào lặng thầm hơn việc gác lại niềm vui gia đình, chấp nhận những tháng ngày xa cách mà không biết ngày đoàn tụ? Thế nhưng, trong trái tim Lê Thị Riêng, tình yêu dành cho con không hề đối lập với tình yêu Tổ quốc. Chính tình yêu ấy đã trở thành động lực để bà tiếp tục chiến đấu, với ước mong một ngày đất nước hòa bình, các con được sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc.

          Năm 1960, bà được giao những trọng trách trong phong trào đấu tranh của phụ nữ miền Nam, tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và giữ cương vị Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam. Bà không chỉ là người tổ chức phong trào mà còn dùng ngòi bút để đấu tranh, viết xã luận cho Báo Phụ nữ Giải phóng, góp tiếng nói cổ vũ tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh của phụ nữ. Đến năm 1965, khi đảm nhiệm cương vị Khu ủy viên Sài Gòn – Gia Định, bà được giao làm Trưởng ban Phụ vận Sài Gòn – Gia Định. Đây là nhiệm vụ đặc biệt khó khăn trong bối cảnh chiến tranh ngày càng ác liệt, hệ thống cơ sở cách mạng ở đô thị luôn bị địch truy lùng, đánh phá. Bà vẫn kiên trì bám sát phong trào, tổ chức vận động phụ nữ ở cả đô thị và nông thôn, góp phần giữ vững mối liên hệ giữa cách mạng với nhân dân.

          Nhưng giữa thời hoa lửa ấy, hiểm nguy luôn rình rập. Ngày 09 tháng 5 năm 1967, trên đường đi công tác, Lê Thị Riêng bị kẻ phản bội chỉ điểm và rơi vào tay địch. Bà bị giam tại khám Chí Hòa, nơi từng giam giữ nhiều chiến sĩ cách mạng. Đối phương tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, tra khảo và tra tấn dã man nhằm buộc bà khai báo về tổ chức, đồng đội và cơ sở cách mạng. Thân thể người phụ nữ nhỏ bé phải chịu đựng những cực hình tàn bạo. Những đòn roi, những trận tra điện và những đau đớn về thể xác nối tiếp nhau, nhưng không thể khuất phục ý chí của người chiến sĩ cộng sản. Bà kiên quyết giữ bí mật, bảo vệ đồng đội và cơ sở cách mạng. Trong hoàn cảnh tưởng chừng không còn sức chịu đựng, bà vẫn nghĩ đến sự an toàn của những người khác.

          Đó chính là vẻ đẹp cao quý của người anh hùng: lòng can đảm không chỉ thể hiện ở việc đối diện với cái chết, mà còn ở sự kiên định trước mọi cám dỗ, ở tinh thần đặt lợi ích của cách mạng và sự sống của đồng đội lên trên bản thân mình. Rồi Tết Mậu Thân năm 1968 đến trong khói lửa chiến tranh. Khi nhiều gia đình mong chờ những ngày đầu năm sum họp, Lê Thị Riêng vẫn bị giam cầm, cách xa các con và những người thân yêu. Đêm mùng 2 Tết Mậu Thân, tức ngày 1 tháng 2 năm 1968, địch bí mật đưa bà cùng một số chiến sĩ cách mạng khác đi thủ tiêu. Trên chuyến xe định mệnh ấy, khi cái chết đã cận kề, bà vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, động viên đồng đội kiên cường, không khuất phục. Những người cùng bị áp giải đã ghi nhớ tinh thần bất khuất của bà trong giờ phút cuối cùng. Theo tư liệu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, trước khi hy sinh, bà cùng đồng đội cất cao tiếng hát Quốc tế ca, hô vang những khẩu hiệu cách mạng, thể hiện niềm tin không lay chuyển vào lý tưởng đã lựa chọn.

          Cuộc đời Lê Thị Riêng khép lại giữa những ngày đầu xuân năm ấy, khi bà mới khoảng 43 tuổi. Tuổi đời còn trẻ, những dự định còn dang dở, những đứa con vẫn đang mong ngày gặp mẹ. Nhưng kẻ thù có thể cướp đi sự sống của một con người, chứ không thể xóa bỏ lý tưởng, lòng trung thành và tinh thần bất khuất mà người ấy đã để lại. Sự hy sinh của Lê Thị Riêng không chỉ là nỗi đau của gia đình, đồng đội và quê hương, mà còn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Bà đã sống một cuộc đời không dài, nhưng từng chặng đường đều in dấu lòng yêu nước, sự tận tụy và đức hy sinh. Bà đại diện cho biết bao người phụ nữ Nam Bộ trong những năm tháng chiến tranh: bình dị trong đời thường, kiên cường trước kẻ thù, giàu tình yêu thương nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ khi Tổ quốc cần.

          Để ghi nhận những đóng góp và sự hy sinh to lớn ấy, năm 2001, Nhà nước truy tặng bà danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên tuổi Lê Thị Riêng được lưu danh trong lịch sử và gắn với nhiều công trình, tuyến đường, trường học ở các địa phương. Đặc biệt, Công viên Lê Thị Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh là một địa danh gợi nhắc các thế hệ về người nữ anh hùng và những năm tháng chiến đấu gian khổ của dân tộc.

          Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, chúng ta được sống trong độc lập, tự do, được học tập, lao động và theo đuổi ước mơ của mình, càng thấm thía giá trị của những hy sinh trong quá khứ. Hòa bình không tự nhiên mà có. Đằng sau mỗi ngày bình yên là biết bao cuộc đời đã ngã xuống, biết bao người mẹ phải xa con, biết bao gia đình chịu cảnh chia ly và biết bao người chiến sĩ đã gửi lại tuổi xuân nơi chiến trường. Nhớ về Anh hùng, liệt sĩ Lê Thị Riêng, chúng ta không chỉ cúi đầu tưởng niệm một người phụ nữ kiên trung, mà còn tự nhắc mình phải sống có trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước. Đó là biết trân trọng lịch sử, biết ơn các thế hệ đi trước, giữ gìn những giá trị tốt đẹp của dân tộc, sống nhân ái, trung thực, đoàn kết và không ngừng nỗ lực cống hiến cho cộng đồng.

          “Câu chuyện một thời hoa lửa” của Lê Thị Riêng là câu chuyện về một tuổi thanh xuân đã hóa thành bất tử. Ngọn lửa yêu nước trong trái tim bà đã tắt đi cùng cuộc đời, nhưng ánh sáng của lòng dũng cảm, đức hy sinh và tinh thần bất khuất vẫn tiếp tục soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

          Xin nghiêng mình trước người nữ anh hùng của quê hương Nam Bộ. Xin tri ân những người đã ngã xuống để đất nước được nở hoa trong hòa bình. Và xin nguyện sống xứng đáng với những hy sinh cao cả ấy, để tên tuổi Lê Thị Riêng mãi là niềm tự hào của quê hương Cà Mau, của phụ nữ Việt Nam và của cả dân tộc.

          Đời người có thể hữu hạn, nhưng lý tưởng cao đẹp và sự hy sinh vì Tổ quốc sẽ còn sống mãi với thời gian.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn