CÂU CHUYỆN NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT CHU MINH ĐỨC TRONG NHỮNG NĂM THÁNG BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

CÂU CHUYỆN NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT CHU MINH ĐỨC
TRONG NHỮNG NĂM THÁNG BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
Ông Chu Minh Đức, quê ở thôn Bản Sao, xã Tri Phú, tỉnh Tuyên Quang, là một trong những người lính đã trực tiếp tham gia chiến đấu và làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc trong những năm 1980, 1981, 1982 và 1983 – giai đoạn vô cùng ác liệt và gian khổ của lịch sử.
Ông nhập ngũ và được biên chế vào lính trinh sát, Đại đội 20 (C20), Trung đoàn 247. Đơn vị của ông đóng quân tại Nàng Vài, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Đây là vùng núi cao hiểm trở, địa hình phức tạp, rừng núi trùng điệp, thời tiết khắc nghiệt và luôn tiềm ẩn nguy hiểm.
Trong một chuyến hành quân dài ngày, đơn vị của ông xuất phát từ xã Nam Sơn, vượt qua Cổng Trời Hai, tiến về phía Hoàng Su Phì. Đội hình hành quân di chuyển qua nhiều địa điểm hiểm yếu, trong đó có tuyến đường từ xã Nam Sơn lên Bản Luốc, rồi tiếp tục xuống chợ Bán Chiên. Đêm đó, cả đơn vị ngủ lại một đêm tại chợ Bán Chiên. Từ nơi này, chỉ cần nhìn sang phía bên kia là có thể thấy đường biên giới giáp với Trung Quốc, rất gần và căng thẳng.
Sáng hôm sau, đơn vị rời Bán Chiên, đi bộ từ sáng sớm, đến trưa thì dừng chân ăn cơm bên bờ suối, rồi tiếp tục hành quân. Đến chiều tối, cả đội mới tới được huyện Xí Mần, mệt mỏi rã rời và ngủ lại một đêm tại đây. Đúng trong thời gian đó, lính Trung Quốc bắt đầu nã pháo 12D7 đánh xuống khu vực cầu Cốc Pài, ngay tại thị trấn Xí Mần.
Ông Đức kể lại rằng, khi ấy nằm giữa chiến sự nhưng cũng không kịp nghĩ đến sợ hãi, bởi nhiệm vụ là trên hết. Người lính chỉ biết nghe lệnh, bám đội hình và sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào.
Ngày hôm sau, đơn vị tiếp tục hành quân lên Ngàn Xỉn, nơi giáp sát biên giới Trung Quốc. Tại đây, từ phía bên kia, người dân Trung Quốc vẫn đi lại bằng xe cộ ầm ầm, khiến không khí càng thêm căng thẳng. Đơn vị của ông được bố trí trú tạm trong một nhà dân, chỉ có đúng 12 người. Cấp trên quán triệt rất nghiêm: không được bỏ bất cứ đồ đạc nào dưới đất, và tuyệt đối không được bước ra phía sau nhà, vì có nguy cơ bị lính Trung Quốc bắn tỉa, rất dễ hi sinh.
Sau một đêm căng thẳng, ngày hôm sau đơn vị tiếp tục hành quân vào đồn Biên phòng Bản Mái và ngủ lại đó một đêm. Sáng sớm hôm sau, các anh lại vượt đường rừng từ Bản Mái sang Suối Đỏ – con suối lúc nào nước cũng mang màu đỏ quạch. Dọc đường hành quân, họ nhìn thấy những đồi thông bị pháo bắn cụt ngọn, chỗ nào cây bị bắn gãy thì địch đào hố để hứng nhựa thông, dấu tích chiến tranh hiện rõ khắp nơi.
Sáng hôm sau nữa, đơn vị tiến sâu vào xã Thượng Tín, khu vực giáp biên giới, nơi không có mốc giới rõ ràng, nằm giữa mốc 10 và mốc 11, thuộc Lo Chải. Đây là một thung lũng rất rộng, dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Sau đó, đơn vị lại hành quân về Biên phòng, ngủ một đêm, rồi hôm sau tiếp tục vượt lên mốc điểm 1035 – điểm cao nhất trong khu vực. Hoàn thành nhiệm vụ, cả đơn vị quay trở lại và đóng chốt suốt 3 năm liền tại đây.
Trong suốt thời gian đóng chốt, mỗi lần đi tuần tra là một lần đối mặt với nguy hiểm. Ông Đức cùng 12 đồng đội – tương đương 12 khẩu súng, luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Nhiều lần chạm trán với lính Trung Quốc, nhưng rất may là quân địch không đi đúng tuyến đường của đơn vị, nên tránh được những trận đụng độ trực tiếp.
Ông Đức kể rằng, khi đi tuần, chỉ dám đi đúng theo lối đã mở, tuyệt đối không bước ra ngoài khu vực cho phép, vì bom mìn còn sót lại rất nhiều. Mỗi tổ tuần tra bắt buộc phải có một chiến sĩ công binh đi trước để rà mìn, gỡ mìn và mở đường, thì bộ đội mới dám theo sau.
Có một kỷ niệm đau lòng mà ông không bao giờ quên: một cô gái dân quân, khi đi làm nhiệm vụ, không có đinh rà mìn, chỉ dùng que vầu để thăm dò, không may trượt phải mìn, mìn phát nổ và cô đã hi sinh ngay tại chỗ. Sự hi sinh ấy khiến cả đơn vị bàng hoàng, xót xa, và càng thấm thía hơn cái giá của hòa bình hôm nay.
Những năm tháng ấy, dù gian khổ, hiểm nguy, thiếu thốn trăm bề, nhưng ông Chu Minh Đức và đồng đội vẫn kiên cường bám trụ, giữ vững từng tấc đất biên cương của Tổ quốc. Đó là quãng đời không thể nào quên, là ký ức máu lửa, là niềm tự hào của người lính đã hiến trọn tuổi trẻ cho đất nước.



