Câu chuyện người lính trực tiếp tham gia chiến đấu tại mặt trận Vi Xuyên Hà Giang
Nguyên người lính trực tiếp tham gia chiến đấu tại mặt trận Vi Xuyên, nguyên xã đội trưởng xã Yên Phú, nguyên chủ tịch hội CCB thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang (cũ)
Sau chiến tranh biên giới 1979, phía Trung Quốc liên tục khiêu khích, lấn chiếm, pháo kích, tạo thành một cuộc chiến âm ỉ.
Từ cuối năm 1983 sang đầu 1984, căng thẳng tại mặt trận Vị Xuyên – Thanh Thủy tăng cao. Trung Quốc điều nhiều sư đoàn lên khu vực Hà Giang, xây công sự, chuẩn bị cho một trận đánh lớn nhằm giành các điểm cao chiến lược trên dãy Tây Côn Lĩnh – Hoàng Su Phì – Thanh Thủy. Ngày 2–4/4/1984 – Mở màn pháo kích. Phía Trung Quốc đồng loạt dùng pháo 105mm, 122mm, 130mm bắn cấp tập vào khu vực Thanh Thủy, Nậm Ngặt, Lao Chải, điểm cao 1509 và 772. Hàng nghìn quả đạn pháo được bắn mỗi ngày, mở đường cho bộ binh.
Ngày 11/6/1984 – Trận đánh lớn đầu tiên Tại điểm cao 233 (quân ta gọi là Lão Sơn), Trung Quốc huy động lực lượng lớn tấn công với nhiều đợt xung phong. Bộ đội Việt Nam chiến đấu bám trụ từng mỏm đá, nhiều đơn vị bị tổn thất nhưng vẫn giữ được trận địa then chốt. Từ 6–12/7/1984 – Giao tranh liên tục các cuộc chiến giành giật từng mét đất diễn ra tại các điểm cao: 772 – 685 – 468 – 233 – 300 – Nậm Ngặt Hai bên dùng pháo binh cực mạnh, được xem là dữ dội nhất kể từ sau 1979. Các đại đội, tiểu đoàn của Sư đoàn 313, 356, 316… liên tục hành quân vào thay quân, củng cố phòng thủ. Cảnh tượng điển hình tháng 4/1984. Núi rừng Vị Xuyên chìm trong khói pháo, đất đá bị cày xới. Nhiều chiến sĩ hy sinh khi đang giữ chốt, vận tải, hoặc trong lúc đào hào, dựng công sự. Đêm xuống, các tổ tải thương phải bò qua vành đai pháo bầy để đưa thương binh về tuyến sau. Mùi khét của thuốc súng, đất cháy, cây gãy tạo thành một “lò lửa” khổng lồ – sau này chiến sĩ gọi là “Lò vôi thế kỷ”. Đây là thời điểm chiến sự bùng phát mạnh nhất trong nhiều năm, đánh dấu giai đoạn chiến tranh Vị Xuyên 1984–1989. Bộ đội ta kiên cường giữ chốt, không để đối phương mở rộng xâm chiếm sâu vào lãnh thổ. Từ tháng 4/1984 kéo dài nhiều tháng sau, Vị Xuyên trở thành mặt trận nóng nhất Việt Nam, với hàng nghìn trận đánh lớn nhỏ. Hình ảnh người chiến sĩ trong tháng 4/1984. Trẻ tuổi phần lớn mới 18–22 sống trong hang đá, bám trụ suốt nhiều tuần hoặc nhiều tháng, chịu pháo kích dày đặc. Những câu chuyện “thời hoa lửa” xuất phát từ chính giai đoạn này – những hy sinh âm thầm nhưng bất khuất.
Đây là câu chuyện xúc động nhất vào cuối tháng ba năm 1988, sương núi Thanh Thủy dày như một lớp khói mỏng phủ lên dãy đá tai mèo. Buổi sớm trên điểm cao 468 luôn tĩnh lặng một cách lạ lùng thứ im lặng chỉ có ở những nơi mà cái chết và sự sống đứng sát nhau như hai bóng người trên cùng một lối nhỏ.
Chiến sĩ Lê Huy Hùng, vừa tròn hai mươi, đặt bàn tay chai sần lên báng súng quen thuộc. Anh nhìn xuống dòng sông Lô uốn lượn dưới chân núi, nơi ánh sáng ban mai đang lấp lánh như những mảnh gương vỡ. Đã tám tháng kể từ ngày anh đặt chân lên mặt trận Vị Xuyên – nơi được đồng đội gọi bằng cái tên “lò vôi thế kỷ”. 468 không phải là điểm cao lớn nhất, nhưng lại là nơi giao tranh không ngừng nghỉ. Mỗi vách đá, mỗi ụ đất ở đây đều thấm mồ hôi và máu của biết bao chiến sĩ.
Đêm xuống nhanh như tắt một ngọn đèn. Gió núi thổi qua khe đá, hun hút. Hùng cùng tiểu đội nhận nhiệm vụ luồn sâu kiểm tra bãi mìn phía tây mỏm đá số 3 khu vực thường bị đối phương bắn phá bất ngờ. “Hùng, đi sau tớ. Cẩn thận đấy!” tiếng Tấn, người bạn thân nhất, thì thầm. Ánh đèn pin cá nhân được che kín trong lòng bàn tay. Hùng cúi sát xuống mặt đất, dò từng bước. Dưới chân anh là những khối đá sắc lẻm, trên đầu là vòm trời tối đặc quánh mùi khói súng. Bất chợt, một tiếng nổ đanh gọn vang lên phía đối diện. Khói và đất tung mù. “Pháo 82! Nấp!” Hùng quát khẽ. Cả tiểu đội ép xuống khe đá. Đất đá rơi lộp bộp lên mũ sắt. Trong tiếng gầm rít của pháo, Hùng nghe rõ nhịp tim của mình đang đập mạnh, nhưng bàn tay vẫn giữ chặt khẩu AK, không hề run. Khi loạt pháo dứt, họ tiếp tục tiến lên, hoàn thành nhiệm vụ và rút về chốt an toàn lúc gần nửa đêm. Tấn khẽ vỗ vai anh: “Giỏi lắm, Hùng. Cậu mà run một cái là chúng ta xong cả rồi.” Hùng cười mệt:“Còn đồng đội ở đây, ai dám run.”
Trong ba lô của Hùng luôn có một túi ni-lông nhỏ đựng những lá thư mẹ gửi từ quê. Mẹ viết chữ không đẹp nhưng nắn nót từng nét: “Con ráng giữ mình. Cả nhà mong con mạnh khỏe.”Mỗi khi đêm yên, anh thường lén mở thư ra đọc. Ánh đèn dầu trong hầm chỉ đủ soi một góc nhỏ gương mặt anh, gương mặt sạm đen vì nắng gió nhưng đôi mắt vẫn ánh lên sự hiền lành, trẻ trung của tuổi đôi mươi. Tấn từng nói: “Mai kia về, cậu sẽ kể cho họ nghe rằng chúng ta đã sống trên một mảnh đất mà mỗi tấc đất đều phải đổi bằng sự gan góc của người lính.” Hùng mỉm cười: “Hy vọng mai kia có sớm thật…”
Tháng bảy, mưa lớn kéo dài, đất đá sạt lở. Địch tăng cường bắn phá điểm cao 468 nhằm ép quân ta rời vị trí. Đại đội được lệnh giữ vững trận địa bằng mọi giá.
Buổi chiều hôm đó, pháo dội xuống liên tiếp. Hầm của tiểu đội Hùng rung chuyển như sắp vỡ. Khói súng, đất đá, mảnh đạn… mọi thứ hòa vào nhau trong tiếng nổ chát chúa. Tấn bị một mảnh đá hất văng, máu chảy trên trán. “Không sao! Tớ vẫn chiến đấu được!” Tấn hét lên, dù tiếng anh bị lẫn trong tiếng pháo.
Hùng kéo Tấn nép xuống sau ụ đất, rồi nghiêng người ngắm bắn kiềm chế hướng địch. Mỗi viên đạn rời nòng như một lời thề giữ chốt. Đến lúc pháo im, trời đã tối đen như mực. Quân ta vẫn đứng vững. Đồi 468 vẫn nằm trong tay họ.
Tấn thở hắt ra, dựa vào vai Hùng: “Hùng này… khi nào chiến tranh kết thúc… tớ muốn về trồng mấy luống rau sau nhà.” Hùng cười: “Tớ về phụ. Đất sau nhà tớ còn nhiều nữa.”
Một sáng sau trận đánh, khi mây tan dần, Hùng bước ra cửa hầm. Ánh mặt trời lấp lánh trên các tảng đá, làm điểm cao 468 trông như một bức tranh dát vàng. Tấn từ xa gọi lớn: “Này, lại đây xem này! Hôm nay trời đẹp hiếm có đấy. Họ đứng cạnh nhau, lặng ngắm núi rừng. Những chòm cây bị cháy đen vẫn còn đó, mùi khói còn phảng phất, nhưng trong ánh sáng ấy có gì đó rất dịu dàng – một vẻ đẹp mà chỉ những người đi qua khói lửa mới cảm nhận được. Hùng nghĩ thầm:
“Sẽ có ngày 468 chỉ còn trong ký ức. Sẽ có ngày chúng ta kể lại chuyện hôm nay mà đôi mắt không còn cay nữa.”
Mùa đông cuối năm 1988, đơn vị Hùng được rút về tuyến sau. Trước khi đi, anh quay lại nhìn điểm cao 468 lần cuối. Nơi ấy đã chứng kiến tuổi trẻ của anh cháy bùng như ngọn lửa giữa gió lạnh biên cương. Tấn vỗ vai anh, nói nửa đùa nửa thật: “Đi thôi, Hùng. Chúng ta sống rồi, nhất định phải sống cho xứng với những người đã nằm lại. Hùng gật đầu. Bước chân anh nặng mà vững. Phía sau là dãy núi Thanh Thủy mờ trong sương, phía trước là một tương lai chưa rõ hình hài nhưng anh biết, mình đã sống trọn vẹn một thời tuổi trẻ giữa hoa lửa.
Một thời không bao giờ phai. Một thời của anh chiến sĩ Lê Huy Hùng. Một thời của điểm cao 468 – Vị Xuyên./.



