CÂU CHUYỆN NGƯỜI MẸ VẪN CÒN SỐNG – MỘT ĐỜI QUA BÃO LỬA, GIỮ TRỌN NIỀM TIN

CÂU CHUYỆN NGƯỜI MẸ VẪN CÒN SỐNG – MỘT ĐỜI QUA BÃO LỬA, GIỮ TRỌN NIỀM TIN
Bà Lir hay còn được gọi là Bà Ly, một người bà ngoại xinh đẹp của tôi. Nay bà đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc như sương sớm trên triền núi, nhưng đôi mắt vẫn sáng, vẫn ấm, vẫn bền bỉ như năm nào. Mỗi khi nhắc về quá khứ, giọng bà trầm xuống, nhưng không phải chỉ vì nỗi buồn, mà vì trong đó có sự tự hào, có những ký ức không bao giờ phai – những ký ức đã làm nên một người mẹ, một người phụ nữ Việt Nam kiên cường giữa những năm tháng chiến tranh chống Mỹ đầy máu lửa.
Trong những buổi chiều muộn, khi mặt trời đã ngả xuống sau rặng núi, bà thường ngồi trước hiên nhà, mái tóc bạc phơ lay nhẹ theo làn gió, kể cho con cháu nghe về cuộc đời mình – một cuộc đời dài chất chồng gian nan nhưng cũng rực sáng niềm kiêu hãnh và tình thương bao la.
Bà bảo, thời bà còn nhỏ, đất nước đang chìm trong khói lửa chiến tranh. Khi ấy bà chỉ mới tám, chín tuổi – cái tuổi đáng lẽ được nô đùa, được đến trường cùng bè bạn – thì đã phải gùi trên lưng những bao lương thực nặng trĩu để mang ra chiến khu cho các chú bộ đội. Đôi chân bé xíu của bà ngày ấy đã quen với những con đường rừng ngoằn ngoèo, với đá sắc cứa vào chân rớm máu, với tiếng máy bay gầm rú trên đầu. Nhưng chưa bao giờ bà thấy sợ. Bà bảo, “Ngày đó ai cũng khó, nhưng ai cũng thương nhau, thương đất nước mình mà cố.”
Mười lăm tuổi, bà lấy chồng. Đến năm 1972, bà sinh đứa con trai đầu lòng. Nhưng niềm vui làm mẹ chưa trọn vẹn thì cuộc sống chạy giặc lại ập đến. Ngày ngày bà phải bồng con mà chạy, tiếng bom vọng lại từ xa hòa với tiếng trẻ con khóc. Bà kể, lúc ấy con trai bà hay khóc lắm. Khóc đến nỗi dân làng không cho bà đi theo đường mòn cùng mọi người, sợ tiếng khóc thu hút địch. Bà chỉ biết ôm con, lầm lũi đi một mình qua những lối rừng vắng, nước mắt hòa trong hơi đất đỏ.
Năm 1975, bà sinh thêm một đứa con gái. Rồi những năm sau đó, con bà mỗi lúc một đông. Nhưng đời sống khi ấy khổ cực vô cùng: không gạo ăn, không áo ấm, thuốc men lại thiếu thốn. Bà và chồng phải chạy vạy từng bữa, vậy mà bà vẫn quyết tâm cho con đi học. Bà bảo, “Nghèo thì nghèo, chứ chữ nghĩa mà không có thì khổ thêm thôi.” Vậy mà người làng cười chê, bảo nhà nghèo con đông còn bày đặt cho con học hành. Bà chỉ lặng im. Bà tin những bước chân đến trường của con rồi sẽ mở ra con đường mới.

Hình ảnh: Bà Y Lir sinh năm 1952.sống tại làng Klâu ngol ngó, xã ia chim, tĩnh Quảng Ngãi . Được con cái tặng bánh sinh nhật ở tuổi 72
Có lần bà kể về cơn sốt năm ấy – cơn sốt ám ảnh cả cuộc đời bà – đã cướp đi hai đứa con gái còn thơ. Bà nghẹn lại, giọng run run: “Giá như lúc đó có thuốc như bây giờ… giá như tụi nó được sinh ra thời này, chắc đã cứu được…” Đôi mắt bà nhìn xa xăm, như thấy lại những nấm đất nhỏ ngày ấy, nơi trái tim người mẹ non nớt đã bị xé rách lần đầu tiên.
Trong bầy con đông đúc ấy, bà thương nhất là người con gái thứ ba. Cô bé ấy vốn yếu ớt, nhưng vì thương mẹ, thương các em mà chấp nhận ở nhà làm lụng, chăm sóc đàn em nhỏ để chúng được tới trường. Bà bảo: “Mười ba đứa con, mà chị ba của tụi bây thiệt thòi nhất.” Mỗi lần bà nói đến đó, giọng bà lại dịu xuống, như nâng niu một ký ức không bao giờ cũ.
Vậy mà trời không phụ tấm lòng bà. Những đứa con lớn lên, dù vất vả nhưng chẳng đứa nào phụ công mẹ. Đứa thì học hết lớp 12, đứa còn trở thành giáo viên dạy học cho trẻ con trong làng – như trả lại những năm tháng mà mẹ từng bị cười chê vì dám cho con đến lớp. Và điều khiến bà hạnh phúc nhất là các con ai cũng thương chị ba – người chị hy sinh nhiều nhất cho các em.
Bà kể rằng thời đó khổ cực lắm, cơm không đủ ăn, vải không đủ mặc, thuốc men hiếm như vàng, ngày nào có mì trộn với gạo ăn là vui lắm rồi. Nhưng điều làm bà tự hào là dù sống trong chiến tranh, bà chưa từng oán trách cuộc đời. Bà tự hào về đất nước mình, tự hào vì đã góp một phần nhỏ bé trong những năm tháng gian khổ ấy – từ những chuyến gùi gạo thời thơ ấu, đến những lần ôm con chạy giặc, đến những đêm thức trắng bên những đứa trẻ ốm đau.
“Bà cực cũng được,” bà nói, “chỉ cần tụi bây sống đàng hoàng, có chữ nghĩa, biết thương nhau là đủ.”
Ngồi nghe bà kể, ai cũng lặng người. Giữa thời bình yên hôm nay, câu chuyện của bà như ngọn lửa soi sáng, nhắc nhở con cháu về sự kiên cường của người phụ nữ Việt Nam – cả một đời tảo tần, nhẫn nhịn, hi sinh mà chẳng hề đòi hỏi gì cho riêng mình.
Bà – người mẹ, người bà hơn bảy mươi tuổi – vẫn sống giản dị, hiền hậu, nhưng cả cuộc đời bà là một bản hùng ca thầm lặng. Một cuộc đời mà mỗi lần nhắc lại, không chỉ khiến người nghe rưng rưng, mà còn khiến thế hệ hôm nay hiểu hơn giá trị của hòa bình, của hạnh phúc, và của những người đã âm thầm vun đắp nên nó.



