CÂU CHUYỆN QUA ĐỒN GIẶC
Hồi đó (1942), con đường biên giới Việt - Trung phía Cao Bằng là một trong những con đường bọn đế quốc Pháp chú ý kiểm soát chặt chẽ nhất. Chúng rất sợ phong trào cách mạng của ta và phong trào cách mạng của Trung Quốc liên hệ được với nhau. Ngoài những đồn bốt, chỗ thì lính Pháp, chỗ thì lính khố đỏ, chỗ thì bọn dõng địa phương đóng rải rác trên đường, chúng còn tung rất nhiều bọn mật thám chó săn ngày đêm rình mò các thôn bản, các lối mòn, ngõ tắt xung quanh con đường đầy núi rừng trùng điệp ấy. Nhưng chúng vẫn không ngăn cản được sự đi lại hoạt động của những người cách mạng được nhân dân bảo vệ và biết khéo léo, bình tĩnh, mưu trí giữ gìn bí mật
H ồi đó (1942), con đường biên giới Việt - Trung phía Cao Bằng là một trong
những con đường bọn đế quốc Pháp chú ý kiểm soát chặt
chẽ nhất. Chúng rất sợ phong trào cách mạng của ta và
phong trào cách mạng của Trung Quốc liên hệ được với
nhau. Ngoài những đồn bốt, chỗ thì lính Pháp, chỗ thì
lính khố đỏ, chỗ thì bọn dõng địa phương đóng rải rác
trên đường, chúng còn tung rất nhiều bọn mật thám chó
săn ngày đêm rình mò các thôn bản, các lối mòn, ngõ tắt
xung quanh con đường đầy núi rừng trùng điệp ấy. Nhưng
chúng vẫn không ngăn cản được sự đi lại hoạt động của
những người cách mạng được nhân dân bảo vệ và biết
khéo léo, bình tĩnh, mưu trí giữ gìn bí mật.
Trong một chuyến đi công tác, khi trở về, vì có việc rất
gấp nên Bác quyết định đi ban ngày trên con đường từ
Nước Hai về Pác Bó. Đồng chí Pù Sấn (dân tộc Nùng) được
trao trách nhiệm đi với Bác. Khi được biết là phải đi ban
ngày trên chặng đường đó, đồng chí Pù Sấn rất băn khoăn
72 73
lo lắng việc bảo vệ Bác, làm sao đưa Bác trở về Pác Bó được
trót lọt. Nhiều lúc đồng chí Pù Sấn có ý định can ngăn Bác
không để Bác đi ban ngày, nhưng nghĩ đến công việc của
Bác, đồng chí lại thôi và chỉ biết thầm nhủ: “Nếu có xảy ra
việc gì, sống chết cũng phải bảo vệ lấy Bác”.
Đồng chí Pù Sấn vừa suy nghĩ vừa chuẩn bị cho cuộc
hành trình đó. Bỗng Bác gọi đồng chí Pù Sấn lại gần và hỏi:
- Chú lo phải không? Lo tính trước là phải, nhưng đừng
quá lo lắng mà mất bình tĩnh. Khi gặp khó khăn mà mất
bình tĩnh sẽ kém linh lợi trước mặt kẻ thù, lời nói và hành
động không thống nhất, chúng sẽ biết ngay.
Nghe Bác nói vậy, đồng chí Pù Sấn ngước nhìn Bác,
thấy Bác vẫn khoan thai như lúc thường. Sự khoan thai ấy
đã truyền sức mạnh sang đồng chí Pù Sấn, tự nhiên đồng
chí Pù Sấn thấy mình bình tĩnh hẳn lại.
Hai Bác cháu tiếp tục chuẩn bị. Bác đóng giả làm thầy
mo, đồng chí Pù Sấn đóng vai người đi đón thầy mo về
cúng cho mẹ vợ ốm. Sau khi Bác kiểm tra đồng chí Pù Sấn,
Bác lại bảo đồng chí Pù Sấn kiểm tra lại Bác; thấy cách ăn
mặc, đồ lề, vật dụng đã đầy đủ, hai Bác cháu ung dung
lên đường.
Đi được một chặng khá dài vẫn không gặp trắc trở gì.
Cứ đà đó hai Bác cháu đi hết chặng này đến chặng khác.
Bỗng đến một quãng thanh vắng, cách Đôn Chương vài
kilômét, Bác dấn bước tới sát đồng chí Pù Sấn, hỏi nhỏ:
- Chú thấy thế nào?
- Thưa Bác tốt ạ, chả mấy lúc nữa là về tới nhà thôi! - Đồng
chí Pù Sấn trả lời Bác, giọng khá nhanh nhẩu.
Bác ôn tồn nói:
- Đúng, không mấy nữa là về tới nơi, nhưng chú phải
nhớ là đang đi trên đường và chú đang đi đón thầy mo về
cúng cho người nhà ốm đấy.
Đồng chí Pù Sấn giật mình, nhìn vội Bác rồi cúi mặt,
lúng túng “vâng” một tiếng.
Thì ra Bác đi sau thấy dáng đi và qua câu trả lời của
đồng chí Pù Sấn, Bác hiểu rõ tâm trạng của đồng chí Pù Sấn
lúc đó do chưa gặp trắc trở gì và đã đi gần tới đường rẽ về
Pác Bó nên có phần chủ quan, lơi lỏng vai trò mình đóng,
vì vậy Bác đã kịp thời nhắc nhở.
Hai Bác cháu lại tiếp tục cuộc hành trình. Đi thêm một
chặng đường nữa, Bác và đồng chí Pù Sấn đã tới Đôn
Chương, đường rẽ vào Pác Bó. Hai Bác cháu vừa bước gần
tới trạm gác ở đây thì một tên dõng trong trạm chạy ra hỏi:
- Đi đâu?
- Tôi đi đón thầy mo về cúng cho mẹ vợ tôi ốm mà! - Đồng
chí Pù Sấn bình tĩnh trả lời.
- Thật không? - Tên dõng xẵng giọng, nạt.
- Thật chứ! - Đồng chí Pù Sấn chắc giọng đáp lại.
Một tên dõng khác chạy ra khảm cái gánh của đồng chí
Pù Sấn. Chúng mở tung khăn gói và lục lọi chiếc hòm gỗ.
Chúng chỉ thấy có mấy tập sách cúng chữ nho nhàu nát,
một ít bùa và cả một chiếc ấn vuông bằng gỗ. Rõ ràng là
74 75
đồ lề của thầy mo thật sự. Chúng hất hàm bảo đồng chí Pù
Sấn thu xếp lại.
Đồng chí Pù Sấn tưởng là xong chuyện, bỗng nhiên tên
xã đoàn Tòng ở đâu tới, hỏi ngay:
- Chúng mày đi đâu?
Đồng chí Pù Sấn hơi chột dạ nhưng trấn tĩnh lại ngay
và với giọng buồn buồn, đồng chí nói với nó:
- Còn đi đâu nữa! Mẹ vợ tôi ốm khá lâu rồi, đi đón thầy
mo về cúng thôi.
Xã đoàn Tòng hí hửng nói:
- Hay quá! Vợ tôi cũng đang ốm, phải nhờ ông này vào
thăm xem vợ tôi bệnh gì mới được.
Thật là rầy rà cho đồng chí Pù Sấn. Nó bảo vợ nó cũng
ốm, cũng cần thầy mo, từ chối nó cũng khó, để Bác vào nhà
nó thì lỡ hết công việc. Mà biết đâu, đây chẳng là mưu ma
chước quỷ của nó, có khi nó nghi ngờ là cán bộ cách mạng
hoặc đã nhận ra Bác, lừa Bác vào nhà bắt cho êm để còn lừa
cán bộ khác đi qua đây cho chúng dễ “cất vó”. Thật là trăm
mối bối rối trong lòng đồng chí Pù Sấn. Nhưng đồng chí Pù
Sấn vụt nhớ tới lời Bác lúc ra đi. Đồng chí Pù Sấn đã trấn
tĩnh lại, nghĩ ra một kế và nói:
- Ông này xoàng, lại nghễnh ngãng nữa, ông ấy chỉ
giỏi về chữa bệnh chinh1 thôi. Mẹ vợ tôi ốm lâu ngày, chữa
nhiều thầy rồi mà không khỏi nên thử đón ông này xem
đấy, chưa chắc đã ăn thua gì.
1. Một thứ bệnh phong thấp.
Không ngờ xã đoàn Tòng vẫn xoắn lấy, nó quay sang
vỗ vai Bác:
- Mời ông vào xem cho vợ tôi một tý.
Bác như giật mình, quay lại, ngơ ngơ ngác ngác một
chút rồi mới cất lên một tiếng “hả?” rất nặng nhọc. Trước
mắt xã đoàn Tòng, Bác chỉ là một ông cụ ngờ nghệch, trên
đầu quấn lôi thôi một chiếc khăn chàm bạc màu với đôi
hàm răng ám đầy khói thuốc. Thấy vậy, đồng chí Pù Sấn
nói tiếp:
- Đấy! Ăn thua gì! Mẹ tôi kêu mãi đành phải đón thôi!
Lúc này hai tên lính dõng dáng chừng cũng đã chán
ngấy cái ông thầy mo vừa điếc, vừa ngây ngô này, chúng
nói chõ vào:
- Ông xã ạ, chả ra gì đâu!
Xã đoàn Tòng cũng đã bực mình nhưng vẫn tiếc rẻ,
ngần ngừ mãi hắn mới bảo:
- Ừ thôi đi đi... nhưng lúc trở về nhớ cho ông ấy vào
thăm vợ tôi một tý.
Rồi hắn bước vào trong trạm gác. Thế là thoát. Đồng chí Pù
Sấn thu xếp lại khăn gói đồ cúng. Bác cũng “lóng ngóng”
xếp lại mấy quyển sách chữ nho và hai Bác cháu lại ung
dung, người gánh đồ đi trước, người chống gậy theo sau.
Riêng đồng chí Pù Sấn khi vượt khỏi nơi nguy hiểm
này thì vừa vui mừng, vừa nhận thấy sâu sắc sự thận trọng
và tài khéo léo của Bác trong chặng đường vừa qua. Đồng
chí càng ngạc nhiên hơn là không biết Bác đã dùng cơm
76 77
nguội hay nhựa sung bôi vào răng từ bao giờ mà làm cho
bộ răng trắng của Bác ngày thường đã biến thành y hệt bộ
răng của ông lão địa phương thật sự. Bác lại còn kết hợp
với cách giả điếc, giả ngớ ngần rất tài tình nên Bác đã làm
cho những con mắt cú vọ, xảo quyệt của bọn dõng và ngay
cả tên xã đoàn Tòng cũng không biết được.
Tháng 5 năm 1964
VŨ GIANG ghi


