Người có công giúp đỡ cách mạng

câu chuyện số 06

Xã Ngũ Lạc xây dựng chính quyền, ổn định đời sống Nhân dân, tiến hành cuộc kháng chiến giải phóng xã lần thứ hai, giai đoạn 1946 - 1950

Vĩnh Long19/11/2025Lâm Văn Học (XÃ ĐOÀN NGŨ LẠC)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi nước nhà giành được độc lập, ở Trà Vinh chính quyền Nhân dân từ tỉnh xuống xã được thành lập trong hoàn cảnh địa phương gặp nhiều khó khăn về tài chính. Tuy vậy, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh vẫn hăng hái tham gia hưởng ứng “Tuần lễ vàng” giữ nền độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động từ ngày 17 – 24/9/1945. Ở Ngũ Lạc “Tuần lễ vàng” được phát động trong toàn xã. Nhân dân tuy nghèo nhưng vẫn quyết tâm hưởng ứng, đóng góp phần tài sản nhỏ nhoi của mình cho Cách mạng. Chỉ trong vòng một tuần lễ vận động quyên góp, tỉnh Trà Vinh đã nộp về Trung ương 500 lạng vàng. Số còn lại tỉnh mang ra nước ngoài mua vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang của tỉnh. Số đồng, thau, chì được chuyển về công xưởng của tỉnh tại làng Trường Long Hòa sản xuất vũ khí thô sơ. Không khí phấn khởi của người dân sống trong một nước vừa giành được độc lập, tràn ngập khắp các vùng trong tỉnh. Các nhà sư lo sửa sang lại chùa chiền lo bề tu học.

Nhân dân ta sống trong nước độc lập chưa được bao lâu thì, ngày 23/9/1945, giặc Pháp gây hấn và chiến sự bắt đầu xảy ra tại Sài Gòn. Ngay trong đêm 23/9/1945, Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh- đồng chí Phạm Thái Bường chỉ đạo điều động ngay một trung đội “Cộng Hoà vệ binh” do ông Bùi Trí Viễn chỉ huy lên đường chi viện với quân dân ta đánh Pháp tại mặt trận Sài Gòn. Kể từ mùa thu 23/9/1945 ấy, Nhân dân Nam bộ, trong đó có Chi bộ và Nhân dân làng Ngũ Lạc cũng bước vào cuộc hành trình 09 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -1954).

Sau khi phong trào khởi nghĩa Cách mạng tháng 8/1945 giành thắng lợi, Chính quyền Cách mạng dưới hình thức các tổ chức Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể: Đoàn Thanh niên cứu quốc; Hội Phụ nữ cứu quốc; Hội Nông dân cứu quốc được thành lập. Chính sách 10 điểm của Việt Minh được thực hiện. Chi bộ phát động mạnh mẽ ba phong trào chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thứ thuế, khóa, phụ dịch được bãi bỏ, Tô, tức giảm 75%. Nợ của dân nghèo được chính quyền tuyên bố xoá bỏ. Ruộng đất của địa chủ bị Việt Minh tịch thu. Nông dân trong xã, nô nức thi đua lao động sản xuất, học tập bình dân học vụ, góp tay xây dựng chính quyền Cách mạng, bài trừ tệ nạn xã hội.

Ngày 2/12/1945, quân Pháp dùng bộ binh từ Vĩnh Long kéo xuống phối hợp với tàu chiến từ sông Cổ Chiên và Vàm Cồn Ngao đổ bộ vào. Máy bay cho quân nhảy dù xuống, đánh chiếm tỉnh lỵ Trà Vinh. Lực lượng “Cộng Hoà vệ binh” của chính quyền Việt Minh lúc bấy giờ chiến đấu đánh địch rất kiên cường, bảo vệ tỉnh lỵ, bảo vệ bộ máy chính quyền Việt Minh non trẻ. Vũ khí trong tay lúc bấy giờ chỉ là gậy gộc, tầm vông, nhưng đồng bào làng Ngũ Lạc cùng nhau thay phiên canh gác, đốn chà tre rào kín các nẻo đường vào sóc. Các nhà sư ở Chùa Lớn, Sóc Ớt, Trà Khúp cũng tham gia cùng con sóc rào làng, canh gác, ngăn quân Pháp kéo đến.

Giữa bối cảnh đó, ngày 6/1/1946, cả nước ta diễn ra cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo Sắc lệnh 14/SL ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bất chấp mọi âm mưu phá hoại của các thế lực phản động, trên 90% cử tri trong tỉnh đi bầu cử Quốc hội đầu tiên của cả nước. Nhân dân Kinh - Khmer - Hoa và các nhà sư ở Ngũ Lạc cũng hăng hái đi bầu cử. Kết quả tỉnh Trà Vinh có 3 vị trúng cử vào Quốc hội đầu tiên. Đó là 3 ông: Dung Văn Phúc, Cao Phát Thành và Nguyễn Duy Khâm.

Mặc dù vấp phải sự chống trả rất quyết liệt và anh dũng của các chiến sĩ dân quân và Nhân dân ta; nhưng đến cuối tháng 2/1946, giặc Pháp vẫn chiếm đóng đồn và thiết lập bộ máy chính quyền xong 11 làng của quận Cầu Ngang, trong đó có làng Ngũ Lạc.

Trong lúc chính quyền cách mạng đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” ấy thì ngày 6/3/1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Chính phủ Pháp ký Hiệp định sơ bộ với nội dung: Quân ta tạm hòa hoãn với quân đội Pháp. Mục đích của Chính phủ ta là không muốn chiến tranh xảy ra gay gắt hơn, tránh sự đổ máu cho Nhân dân Việt Nam nhưng giữ vững hòa bình, độc lập củng cố và bảo vệ chính quyền, xây dựng lực lượng.

Lợi dụng sự nhân nhượng của Chính phủ ta, thực dân Pháp mở rộng diện chiếm đóng trên phạm vi toàn quốc. Ở Trà Vinh thực dân Pháp đưa quân chiếm đóng và xây dựng quận lỵ Cầu Ngang tại Ba Động. Thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính toàn bộ đất nước ta một lần nữa. Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.

Sau khi thực dân Pháp xâm lược lại nước ta lần hai, tại làng Ngũ Lạc thời gian đầu tuy địch không đóng đồn, nhưng chúng dùng mọi âm mưu, thủ đoạn nhất là vật chất để gây chia rẽ các dân tộc trong làng. Đầu năm 1946, hai lần địch kích động phần tử lưu manh người Khmer chém giết người Kinh và người Hoa, gây hận thù lẫn nhau.

Vào thời điểm này, người Kinh và người Hoa ở Ngũ Lạc rất ít, giữa ba dân tộc sống xen kẽ lẫn nhau, người Kinh và người Hoa sống nhiều nhất ở chợ Thị Ròn ấp Lạc Thạnh, chợ Bến Trại ấp Sóc Ruộng và Trường Bắn. Với tình làng nghĩa xóm, người Khmer lương thiện rất đau lòng, đã tìm mọi cách che chở và tổ chức cho người Kinh và người Hoa thoát nạn. Đặc biệt, tại ấp Sóc Ruộng, đồng bào Khmer cả ấp nuôi chứa hàng chục người Kinh và người Hoa ở xóm Bến Trại ba ngày tại đám dầu nhà Ông Thuốn. Thấy tình hình không ổn, đêm thứ ba, ông Thạch Vênh ở Sóc Ruộng cầm gậy gộc, bí mật đưa người Kinh, người Hoa thoát nạn ra đến đầu giồng thôn Cảnh (nay ấp 14, xã Long Hữu) để đi đến vùng giải phóng. Vài ngày sau, bọn người Khmer lưu manh phát hiện ra ông Thạch Vênh là người đưa số bà con người Kinh, người Hoa thoát khỏi Bến Trại, chúng bắt ông Thạch Vênh đánh đến chết, dập xác tại tháp đôi ấp Sóc Ruộng, sau này những người Kinh đã được ông cứu sống đến tìm thi hài ông thì đã bị thất lạc.

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Trà Vinh, Quận ủy Cầu Ngang kịp thời lãnh đạo tăng cường công tác giáo dục tư tưởng về tình đoàn kết dân tộc, phân tích rõ ý đồ, âm mưu chia để trị của thực dân Pháp. Qua uốn nắn Chi bộ Đảng về bám làng, bám dân gầy dựng được cơ sở trong các ấp, các chùa Khmer, người Kinh, người Hoa lần lượt trở về nhà làm ăn sinh sống, khôi phục tình đoàn kết 03 dân tộc, cùng nhau lao động, sản xuất, luôn đề cao cảnh giác với âm mưu chia rẽ của kẻ thù.

Chi bộ và Nhân dân làng Ngũ Lạc mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp bằng một chiến công oanh liệt - đó là qua công tác trinh sát của quần chúng, cứ mỗi buổi sáng có 06 tên lính lê dương (lính Tây) của quận Cầu Ngang được trang bị đủ 06 súng, đi từ chợ Ô Lắc (Hiệp Mỹ) qua chợ Thị Ròn để góp chợ. Khi tan chợ 06 tên lính lại trở về Ô Lắc.

Quận ủy phân công đồng chí Lê Văn Thơ, Quận ủy viên là Trưởng “Ban vô hình” - Phó ban Công an quận và 02 đồng chí trinh sát của Công an cùng các đồng chí dân quân trong Chi bộ làng Ngũ Lạc tổ chức và chỉ huy trận đánh bọn lính lê dương này.

Kế hoạch của ta là chọn 12 người đóng vai cơ sở công khai, tay không, ở trong chợ hoặc đi từ ngoài vào chợ, làm việc mua bán như người dân, cứ 02 người bí mật cặp 01 tên địch đợi thời cơ thuận lợi cướp súng.

Sáng hôm đó, lúc tan chợ, 06 tên lính vào quán ăn Năm Quến tại chợ Thị Ròn, 06 người của ta, trong đó anh Nguyễn Văn Rõ, anh Lê Minh Thắng do giả bộ kỳ kèo không chịu góp tiền chợ nên địch vô tình kéo các anh tập trung vào quán. Trong quán, lúc bấy giờ ta đã phục sẵn 02 người là anh Phạm Văn Phòng (Hai Phòng) và anh Phan Văn Sáu (Hai Phải) người Ngũ Lạc. Mặc dù chưa đúng theo kế hoạch nhưng có thời cơ tốt, Ban Chỉ huy trận đánh làm ám hiệu tấn công. Đồng loạt 06 người của ta đang có mặt tại quán ập vào tước được 02 súng, anh Hai Phòng và anh Phan Văn Sáu tước thêm được mỗi người 01 cây súng. Còn 02 cây súng, bọn lính hoảng hốt mang theo chạy thoát. Anh Phan Văn Sáu người duy nhất biết bắn súng lúc bấy giờ, nổ mấy phát về bọn lính đang chạy thục mạng về Ô Lắc. Kết quả ta lấy được 4 súng trường, anh Phan Văn Sáu gan dạ, dũng cảm, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, nhưng người lùn, từ đó đồng đội gọi anh là ông Sáu Nhật Bổn. Đây là trận đánh đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng cả về chính trị lẫn quân sự, mở đầu phong trào kháng chiến chống Pháp của Chi bộ và Nhân dân Ngũ Lạc.

Tháng 12/1946, Quận ủy cử đồng chí Lê Văn Thơ về làng Ngũ Lạc củng cố lại Chi bộ, phát triển thêm đảng viên mới. Tại Cầu Vĩ, ấp Lạc Hòa, 8 đồng chí đảng viên được mời nhóm họp gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Kim (Hai Kim), Nguyễn Văn Thôi (Bảy Thôi), Phạm Huy Luông (Tư Luông), đồng chí Trịnh Thông Đạt (Sáu Đạt), Trịnh Ngọc Châu (Bảy Châu), Lê Văn Thắng (Chín Thắng), Nguyễn Văn Qui (Năm Qui) và Lâm Cẩm Thành (Sáu Xe). Đồng chí Nguyễn Văn Kim (Hai Kim) được phân công giữ chức Bí thư, đồng chí Bảy Thôi được phân công chức Phó Bí thư Chi bộ, đồng chí Lê Văn Châu (Bảy Châu) làm Ủy viên Quân sự, đồng chí Lê Văn Thắng được điều động về Ban quân sự huyện. Ủy ban Hành chính và Ủy ban Kháng chiến nhập lại thành Ủy ban Kháng chiến hành chính do đồng chí Lâm Cẩm Thành giữ chức Chủ tịch.

Đầu năm 1947, địch đóng hai đồn tại ấp Chùa Lớn, lập ban Hương quản tại đây và đóng thêm một đồn đầu lộ Lạc Sơn, một đồn tại đầu lộ Lạc Thạnh. Tính đến năm 1950, địch lần lượt đóng đồn theo lối mạng nhện nông ra các ấp như: Cây Xoài, Cây Da, Trà Khúp, Bổn Thanh giáp Sóc Ruộng, Bổn Thanh giáp Bào Cát, Lạc Hòa. Song song đó, chúng còn tổ chức mỗi ấp một trưởng ấp và thành lập bảo an sóc là lực lượng bán vũ trang. Tuy đóng đồn là tương đối dày đặc, nhưng phần lớn đồn ở ấp và bọn tề ấp là bọn cầu an nên lực lượng của Chi bộ vẫn có điều kiện bám ấp để hoạt động.

Thời gian này, cơ quan cấp ủy Chi bộ làng Ngũ Lạc ở tại hàng Cồng, làng Long Toàn. Từ đây, cán bộ, đảng viên của Chi bộ thường xuyên về bám ấp và dựa vào các cụm rừng lõm ở đồng láng, Thủy Triệu, Trường Bắn để hoạt động. Để tiện cho việc hoạt động, cấp ủy Chi bộ phân chia làng Ngũ Lạc thành ba vùng như: vùng A bao gồm ấp Lạc Hòa, Ông Cui, Bổn Thanh, Sóc Ruộng, Trà Khúp, do đồng chí Nguyễn Văn Còn (Chín Còn) làm trưởng vùng. Vùng B gồm: Trường Bắn, Lạc Thạnh, Lạc Sơn, Sóc Chuối, Thốt Lốt do đồng chí Trịnh Đạt Thông làm trưởng vùng, sau đó đồng chí Lê Văn Sử (Tư Sử) thay đồng chí Trịnh Đạt Thông làm trưởng vùng. Vùng C gồm: Đường Liếu, Sóc Ớt, Rọ Say, Chậy Sô, Mé láng, Cây Xoài, do đồng chí Nguyễn Văn Cẩn làm trưởng vùng.

Năm 1947, Chi bộ Ngũ Lạc họp tại hàng Cồng, làng Long Toàn để củng cố lại tổ chức. Đồng chí Lê Trọng Nghĩa (Hai Nghĩa), Bí thư Quận ủy tham dự và chỉ định đồng chí Nguyễn Văn Khai giữ chức vụ Bí thư Chi bộ Ngũ Lạc. Đến năm 1948, Quận ủy chỉ định đồng chí Trịnh Thông Đạt giữ chức Bí thư.

Trong lúc này, tỉnh cử đồng chí Lâm Phái - Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính về các làng Nhị Trường, Long Sơn, Ngũ Lạc kết hợp với Chi đội 20 phát động quần chúng Kinh - Khmer nổi dậy đuổi đồn kết hợp với phong trào nổi dậy bao vây hệ thống đồn trú quân Pháp diễn ra sôi sục trong quận. Trước khí thế tiến công đó, ngày 15/01/1947, Quận trưởng Cầu Ngang Perechon phải dời quận lỵ từ Ba Động về Ô Lắc, Hiệp Mỹ. Ngày 23/01/1947, Perechon lại dời quận lỵ Cầu Ngang về Mỹ Hoà (Thị trấn Cầu Ngang ngày nay). Khí thế tiến công của dân quân và đồng bào ta vào hệ thống đồn trú quân Pháp trên địa bàn quận Cầu Ngang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Hàng loạt đồn bót quân Pháp phải bỏ chạy.

Đến tháng 3/1947, toàn bộ đồn bót địch ở khu vực các làng Trường Long Hoà, Long Toàn, Long Hữu, đã rút chạy hết, Chi bộ Đảng làng Ngũ Lạc tiếp tục được củng cố và phát triển nhiều đảng viên mới.

Đi đôi với việc củng cố tổ chức cơ sở Đảng, các tổ chức Mặt trận Việt Minh ở làng được xây dựng lớn mạnh. Đoàn Thanh niên cứu quốc tăng cường công tác bố phòng, luyện tập quân sự sẵn sàng đánh địch bảo vệ phum sóc tự do. Trong đồng bào Khmer có tổ chức hội ủng hộ Isa rắt. Đến năm 1948, đoàn Thanh niên cứu quốc là đoàn thể chủ yếu làm nòng cốt cho phong trào xây dựng dân quân. Hội Phụ nữ được mở rộng và củng cố, tập hợp hầu hết phụ nữ trong làng vào tổ chức Hội. Hội viên phụ nữ tích cực tham gia phong trào dân quân và công tác xã hội, phục vụ tiền tuyến, góp gạo vào các “Hủ gạo kháng chiến” nuôi quân đánh giặc. Đến đầu năm 1948, “Hội mẹ chiến sĩ” ra đời đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc động viên, chăm sóc các chiến sĩ về tinh thần và vật chất. Hội Nông dân cứu quốc từ năm 1947 đã trở thành đoàn thể chính trị, đóng góp to lớn trong kháng chiến kiến quốc. Hội là chỗ dựa cho chính quyền nhân dân thực hiện các bước của chính sách Người cày có ruộng và cùng với các vị chư tăng ở các chùa trong việc củng cố tình đoàn kết dân tộc Kinh, Khmer mà thực dân Pháp cố tình “chia để trị”.

Theo sự chỉ đạo của Quận ủy, Chi bộ làng Ngũ Lạc chỉ đạo bầu cử Ủy ban Kháng chiến hành chính làng. Đây là cuộc vận động chính trị đề cao quyền lợi và trách nhiệm của nhân dân đứng ra bầu cử người đại diện thực sự cho mình vào cơ quan chính quyền của dân, do dân và vì dân. Từ đó, Ủy ban Kháng chiến hành chính làng Ngũ Lạc được ra đời (năm 1947), gồm có các thành viên:

Ông Lâm Cẩm Thành - Chủ tịch.

Ông Lê Văn Châu - Ủy viên Quân sự.

Bộ máy Ủy ban Kháng chiến hành chính làng lưu dụng khá nhiều nhân sự trong bộ máy Hội đồng Hương chức của chính quyền cũ.

Một số địa chủ cho người mang vác bàn ghế đến biếu cho chính quyền Việt Minh lập văn phòng, biểu dương uy tín chính quyền Việt Minh. Ở các chùa, các nhà sư tổ chức cầu siêu cho linh hồn các chiến sĩ và đồng bào hy sinh trong các trận chiến đấu vừa qua.

Ngày 25/3/1948, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 148/SL đổi tên quận thành huyện, làng thành xã trên phạm vi cả nước. Ngày 28/2/1949, Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ ra Nghị định số 46/NĐ đổi tên quận thành huyện, làng thành xã trên phạm vi toàn Nam bộ. Từ đó, làng Ngũ Lạc được gọi là xã Ngũ Lạc, huyện Cầu Ngang.

Tháng 9/1948, du kích xã Ngũ Lạc phối hợp cùng bộ đội tiểu đoàn 307 (Quân khu 8) vây đánh tiêu diệt một Tiểu đoàn quân viễn chinh Pháp trong chiến trận La Bang bắt sống tên Trung úy và Đại úy Pháp. Thắng lợi này, đã ghi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta một chiến công vô cùng oanh liệt, với khúc ca tràn ngập niềm tự hào: “Trận Tháp Mười, trận Mộc Hóa, vang tiếng đồn đánh trận La Bang...”.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, một Hội đồng “Tạm cấp ruộng đất cho dân cày” của huyện được thành lập. Đối với xã Ngũ Lạc, năm 1949 xã tiến hành cải cách ruộng đất, vận dụng sách lược nông thôn: đoàn kết cố, bần, trung nông, liên hiệp phú nông, đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ, nhưng có phân biệt đối xử. Trong xã có 3 tên địa chủ lớn là Trịnh Tào Phiện ở ấp Lạc Hòa, Hàn Có (chủ giồng) ở ấp Lạc Thạnh, Giáo Ngợi ở ấp Trường Bắn. Địa chủ Trịnh Tào Phiện có tham gia vào bộ máy Hội đồng Hương chức làng nên tá điền gọi là xã Còn. Năm 1947, Trịnh Tào Phiện gia nhập quốc tịch Pháp, thẳng tay bóc lột tá điền, xem thường cả hương chức, hương thân người bản xứ. Ngoài ra, còn có hai địa chủ lớn ngoài xã hội là Lê Văn Giải và Ban Thái Cầm. Trước khi cải cách ruộng đất, Huyện ủy có điều chỉnh ranh giới xã như: mở rộng các ấp ven láng, ranh giới từ đìa Cù Quanh lên đến Lương sen nhỏ tiếp giáp với xã Long Toàn, ấp Đường Liếu kéo dài đến đầu lộ mới ngày nay là xã Long Hữu. Thành lập Hội đồng tam cấp, tạm giao do đồng chí Trịnh Thông Đạt, Bí thư Chi bộ kiêm Chủ tịch Hội đồng tạm cấp ruộng đất; Đồng chí Trần Nam Trọng (Hai Trọng), Hà Văn Phát (Năm Phát) làm quản thủ.

Chi bộ xã tuyên bố tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào, ác bá, tạm cấp cho nông dân. Tạm quản đối với đất địa chủ vắng mặt mà chưa đủ điều kiện tịch thu, tạm giao cho nông dân. Vận động địa chủ nhỏ triệt để giảm tô cho nông dân thuê ruộng. Căn cứ vào quỹ đất hiện có mà tạm cấp, tạm giao, không phân biệt người Kinh, người Khmer, hay người Hoa, nếu là nông dân mỗi người đều được tạm cấp 05 công (5.000 mét vuông) đất ruộng để canh tác. Đối với binh sĩ địch còn tại ngũ vẫn được chính quyền cách mạng tạm cấp 05 công đất cho gia đình quản lý sử dụng. Phần đất này, người được tạm cấp phải đóng thuế cho cách mạng đến khi rã ngũ về nhà sản xuất thì được cấp như mọi thành viên khác trong gia đình. Từ năm 1949 đến ngày 20/7/1954, xã Ngũ Lạc tạm cấp, tạm giao phần lớn ruộng đất của địa chủ trong xã cho nông dân.

Việc tạm cấp, tạm giao ruộng đất của chính quyền cách mạng Việt Minh có ý nghĩa rất lớn: Từ người làm thuê cho địa chủ, nông dân xã Ngũ Lạc trở thành người làm chủ trên mảnh ruộng của mình, đời sống người dân được nâng lên, nên rất gắn bó với Đảng, tích cực tham gia cách mạng. Người Kinh, Khmer, Hoa trong xã thật sự đoàn kết tập trung chống kẻ thù chung. Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác binh vận phát triển.

Các cơ quan của tỉnh tập trung về đóng các xã trong huyện Cầu Ngang xây dựng căn cứ huấn luyện và giúp dân phát triển kinh tế. Nhiều vùng trong huyện trở nên sung túc tạo hậu thuẫn vững chắc cho kháng chiến. Đến tháng 02/1949, Huyện ủy phân công đồng chí Mai Hữu Phước (Năm Phương), Huyện ủy viên về giữ chức Bí thư Chi bộ kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính xã Ngũ Lạc, thay cho đồng chí Trịnh Thông Đạt; đồng chí Nguyễn Văn Còn (Chín Còn) làm Phó Bí thư Chi bộ kiêm Chủ tịch Hội đồng tạm cấp đất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn