Câu chuyện số 351 : TRIỆU THỊ TRINH - CHÍ KHÍ NỮ NHI NGHÌN THU VỌNG MÃI
Ai nói chỉ có nam tử mới có thể làm tướng? Ai nói nữ tử lại không thể mưu lược nhà binh? Ai lại dám nói nữ tử không thể cầm thương xưng tướng-oai hùng một cõi? Vậy hãy nghe tôi kể chuyện bà Triệu- chí khí nữ nhi nghìn thu vọng mãi!
ĐOÀN TRƯỜNG THPT NGUYỄN SIÊU
Lớp: 11H
Họ và tên: Nguyễn Trần Tường Vy
Câu chuyện số 351
Câu Chuyện Thời Hoa Lửa
Triệu Thị Trinh-chí khí nữ nhi nghìn thu vọng mãi
“Ru con, con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”
Ai nói chỉ có nam tử mới có thể làm tướng? Ai nói nữ tử lại không thể mưu lược nhà binh? Ai lại dám nói nữ tử không thể cầm thương xưng tướng-oai hùng một cõi? Vậy hãy nghe tôi kể chuyện bà Triệu- chí khí nữ nhi nghìn thu vọng mãi!
Vào thế kỷ thứ 2 – sau cuộc khởi nghĩa chóng ách đô hộ nhà Hán của Hai Bà Trưng, toạ tại vùng núi Quan Yên, có một người phụ nữ, thân nữ nhi vậy mà kiên cường, cứng cỏi, quyết không chịu khom lưng cam tâm cúi đầu làm nô lệ phương Bắc. Giữa cảnh đất nước lầm than, nhân dân khốn khổ với đủ thứ sưu cao, thuế nặng, tha hương cầu thực, lửa cháy rụi nhà,… Bà đã đứng lên, phất cao ngọn cờ khởi nghĩa, thép hoá tinh thần quật cường mà chỉ huy nghĩa quân đánh đuổi giặc Ngô. Người phụ nữ anh hùng đó là Bà Triệu.
Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh (226-248), sinh ra và lớn lên tại vùng Quan Yên (núi Nưa), quận Cửu Chân (nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá), trong một gia đình hào trưởng và là em của Triệu Quốc Đạt.
Có lẽ rằng, cái bóng khởi nghĩa của Hai bà Trưng thật sự quá lớn hoặc hay chính vì sự lo lắng cho em gái mà Triệu Quốc Đạt đã từng ngăn cản, khuyên bà đi lấy chồng. Đêm hôm đó, trăng sáng đến độ ngọn đèn dầu trước mắt dường như đã hụt hẳn đi sự hiện diện, đã chịu lặng mình khuất phục trước cái “tỏ” của trăng. Triệu Quốc Đạt vốn đã thừa biết rằng, em gái ông vốn chẳng phải nữ tử tầm thường, nếu luận về võ nghệ, con bé tinh thông đủ các môn võ thuật, chẳng kém gì nam tử. Nếu luận về tài mưu lược, con bé lại thông minh sắc bén, có tài đảm lược cao. Càng nghĩ, Triệu Quốc Đạt lại dường như càng muốn bóp nát cái chén nhỏ trong tay:
-Nếu con bé sanh ra là nam tử, liệu…..
-Sinh ra là nam tử thì liệu sẽ ra sao?
Triệu Quốc Đạt giật mình, ông ngoảnh phắt đầu lại, quả nhiên là con bé! Đôi mắt của nó luôn là thứ khiến ông trằn trọc. Vì sao? Vì đôi mắt đó quá đỗi quật cường, đôi mắt đó quá đỗi bướng bỉnh lại quá đỗi cháy bỏng! Đó là đôi mắt không thuộc phạm trù thế gian này, đôi mắt đó và con người đó thật khiến người khác phải khiếp nhường!
-Đến rồi thì đừng đứng ở đó nữa, ta gọi em đến là để nói đôi lời, thuận thì em nghe, nghịch thì em coi như lời ta chỉ là tiếng gió thổi.
Ai nói rằng con người không thể với tới trăng chứ? Cảnh trước mắt, rõ là trăng đang cố với lấy người phụ nữ trước mặt ấy chứ? Hoặc hay bà vốn dĩ há có phải người phàm, vỗn dĩ thế gian này hẳn là khó giữ được bước chân của bà… Trăng soi rõ bóng hình người con gái, đó không phải cái sự đẹp uỷ mị nhu mì, cũng chẳng phải sự đẹp hoa lệ gì cho cam. Cái sự đẹp của bà phải xếp vào loại “Bách bàn nan miêu”. Đầu bà ngẩng cao, dáng người to mà lại không thô, lưng thẳng tay dài tựa như tư thế phượng hoàng sải cánh. Nhịp chân dứt khoát, nhanh mà không cứng, nhịp nhàng tựa chúa sơn lâm. Đôi mắt sáng tham lam gom toàn bộ ánh trăng vào trong nó, hàm đựng là biết bao nhiêu hoài bão lớn lao:
-Được, huynh cứ nói, ta sẽ nghe!
Bà ngồi đối diện anh trai, một thoáng rùng mình khẽ chạy dọc sống lưng Triệu Quốc Đạt, kì lạ. Ông có cảm tưởng lời nói sau đây sẽ phá vỡ đi một cái gì đó đã bị kìm hãm từ lâu mà cũng giống như sẽ đập tan đi tảng đá lòng trong người ông:
-Em nghe ta nói, trước hết, em thân là nữ tử, vốn dĩ nên phải sớm chọn chồng mà sanh con, vun vén gia đình. Há có phải ai cũng giống được hai nữ Vương ngày đó? Sau, ta thân là anh trai, em là em gái của ta, sao có thể không có tình thân? Máu đào hai ta sinh ra cùng một mẹ, ta đương nhiên lo lắng cho em, lo lắng hơn cả là an nguy của em! Lại, sức nữ tử có mạnh đến đâu sao cớ lại đem ra sánh chi nam tử? Vốn biết em khó lòng mà thuận, ta cũng chỉ nói vậy thôi!
Thế rồi, ông nhìn thật rõ em gái của mình, bà đang nhìn ngọn đèn trước mắt, rồi bỗng, bà lấy tay ôm mặt cười thật lớn. Một tràng cười có miệt thị, có giận giữ lại cũng có “lí trí”:
-Hahahahaha… Biết rõ ta sẽ không chấp thuận vậy ngay từ đầu ta khuyên huynh chẳng nên tốn lời làm chi! Nữ tử thì đã sao? Voi trắng một ngà ta còn khuất phục được thì bọn giặc bé con đó là thá gì?!
Bà bật người dậy, phất tay một cái thật mạnh, cái phất tay đó là cái phất tay đánh tan những lời áp đặt nực cười đối với nữ tử, cái phất tay đó là cái phất tay sẽ tạo sóng gọi gió sau này:
-Ta chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng giữ, chém cá cừ kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ chứ quyết không chịu khom lưng làm tì thiếp của người ta!
Lời bà vừa dứt, mây tan trăng tỏ, gió nổi bụi bay, ngọn đèn lại như bừng tỉnh sáng rực lên lúc nào chẳng hay. Nhưng chẳng ai để ý, chẳng một ai quan tâm trăng có sáng hay không, cũng chẳng một ai sẽ đi để ý xem ngọn đèn ngọn gió từ khi nào sống dậy. Vì tất cả đều bị khí thế oai hùng của người con gái trước mặt áp đảo cả. Tay bà siết chặt vào nhau, chẳng rõ bà đang siết cái gì nữa. Là đang siết đến nghẹt thở cái suy nghĩ đến vô lý về nữ nhi hay đang siết chặt lấy để nắm chặt lập trường của bản thân? Hoặc hay chỉ là cái siết tay, một cái siết tay thật mạnh mà thôi… Không ai biết, bà không biết, anh trai bà không biết,… và cũng chẳng ai buồn tò mò về nó vì ngay sau đó một tràng cười lớn đầy khoái chí vang lên:
-Hahahahahahaha! Quả nhiên là em gái ta, không hổ danh là Triệu Thị Trinh! Được! Nếu lòng em đã quyết thì ta làm chi có tư cách ngăn cản? Vậy chúng ta cứ cùng nhau tập hợp binh sĩ, dựng cờ khởi nghĩa, mưu đồ đại nghiệp!
Dừng lại một hơi, Triệu Quốc Tuấn tiếp tục lời còn dang dở:
-Trước là đánh đuổi bọn giặc cho chúng tan thây, sau là để bảo vệ quê hương, bảo vệ dân chúng, lập nên sự nghiệp lớn! Thế nào?
Bà ngoảnh đầu lại nhìn anh trai, đôi mắt đó lại tiếp tục ánh lên ngàn nét sao trời:
-Được!
Dứt khoát, khẳng khái vả quật cường, đó là Lệ Hải Bà Vương (Triệu Thị Trinh). Sau này dưới sự lãnh đạo của bà, nghĩa quân đã giành chiến thắng trong hơn ba mươi trận đánh lớn nhỏ. Khiến cho giặc Ngô mỗi khi nghe đến tên bà đều phải khiếp sợ, ba hồn nát bảy vía chùn. Thậm chí còn có câu thơ rằng:
Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan
Tức:
Múa giáo đánh hổ còn dễ
Giáp mặt Bà Vương mới thật khó



