Câu chuyện số 359 : NGƯỜI MẸ NGUYỄN THỊ RÀNH - NGỌN LỬA BẤT TỬ GIỮA THỜI HOA LỬA
Trong ca khúc “Huyền thoại mẹ” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, những câu hát day dứt vang lên như chạm vào nỗi đau thăm thẳm của những người mẹ Việt Nam khi là hậu phương của những người con hy sinh vì Tổ Quốc: “Mẹ vẫn nhớ hoài một nắng con đi, Mẹ vẫn nhớ hoài bóng dáng con về… Một ngày nào đó con sẽ trở về trong nắng trong mưa.”
ĐOÀN TRƯỜNG THPT NGUYỄN SIÊU
Họ và tên :Đỗ Hà Trang
Lớp 11H
Câu chuyện số 359
Người Mẹ Nguyễn Thị Rành – ngọn lửa bất tử giữa thời hoa lửa
Trong ca khúc “Huyền thoại mẹ” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, những câu hát day dứt vang lên như chạm vào nỗi đau thăm thẳm của những người mẹ Việt Nam khi là hậu phương của những người con hy sinh vì Tổ Quốc:
“Mẹ vẫn nhớ hoài một nắng con đi,
Mẹ vẫn nhớ hoài bóng dáng con về…
Một ngày nào đó con sẽ trở về trong nắng trong mưa.”
Nhưng rồi, có những người con đã không thể trở về theo cách mà người mẹ hằng mong đợi. Trong những năm tháng bom rơi đạn nổ, biết bao người mẹ đã giấu nước mắt sau gương mặt kiên cường, lặng lẽ đặt nỗi đau riêng xuống, tiễn con đi để phục vụ quân dân đánh, giữ nước. Chính họ là những bông lau bạc đầu đứng giữa trận cuồng phong lịch sử, chịu đựng những mất mát mà thời gian không thể vá lành. Và giữa rất nhiều người mẹ Việt Nam như thế, hình ảnh Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Rành- người mẹ có tám đứa con và một người chồng ngã xuống cho đất nước mà vẫn đứng lên như một ngọn núi, bình thản đón nhận nỗi đau chiến tranh mang đến mà không một người mẹ nào trên đời xứng đáng phải gánh.
Trong thời chiến, khi tiếng súng còn xé nát khoảng trời quê, có người đã nói một câu khiến dân tộc này phải chạnh lòng:
“Chiến trường thì khốc liệt, nhưng mẹ ở hậu phương còn khốc liệt hơn.”
Bởi người lính được chiến đấu, được cầm súng, được hô vang lý tưởng. Còn người mẹ đồng thời cũng là hậu phương chỉ có thể nén đau nơi bếp lửa, nơi cánh cửa cũ kỹ mỗi khi hy vọng nhìn ra ngõ thì thấy bóng dáng quen thuộc trở về một cách bình an. Người mẹ Nguyễn Thị Rành cũng vậy. Mỗi lần tiễn một đứa con đi ra pháp trường thì bà lại nhặt nhạnh từng ánh mắt, từng nụ cười của những người con để giấu vào ký ức. Có người kể rằng: khi nhận giấy báo tử người con thứ tư, mẹ chỉ im lặng đặt lá thư vào hòm gỗ, rồi ra sau hè tưới mấy gốc cau cho đỡ nghẹn: không khóc, không oán, không trách trách móc mà bà chỉ lặng lẽ cắn răng chịu đựng một mình. Nỗi đau mất con chưa bao giờ nguôi ngoai trong lòng người mẹ, nhưng mỗi lần tiễn những người con đi cũng chính là khi lúc nào cũng có thể nhận giấy báo tử .Chính nỗi đau ấy khiến người đọc nhói tim vì tức tàn phá của chiến tranh là điều không một người mẹ hậu phương nào mong muốn bị rơi vào hoàn cảnh:
có câu thơ rằng:
“Người đầu bạc tiễn người đầu xanh,
Nỗi đau nào sâu bằng nỗi đau ấy.”
Nhưng điều khiến cả dân tộc nghiêng mình lại chính là cách người mẹ biến nỗi đau thành sức mạnh. Con ngã xuống, mẹ lại động viên con khác lên đường. Chồng hy sinh, mẹ vẫn kiên gan nuôi giấu cán bộ, đào hầm bí mật, giữ cho cách mạng một khoảng trời an toàn ngay trong lòng địch. Nhưng sâu thẳm trong lòng người mẹ là những mất mát không thứ gì bù đắp được khoảng trống đó, những mất mát đó là những cơn đau về thể xác lẫn tinh thần, là những bữa cơm chỉ có bóng dáng người mẹ cô đơn ngồi chờ các con về, là mỗi ngày phải chấp nhận rằng đứa con ngày nào còn chập chững bước đi nay đã ra chiến trường và khi trở về là giấy báo tử. Những nỗi đau đó thời gian cũng không làm xua tan bớt những mảnh ký ức đã in hằn trong tâm trí người mẹ.Khi đất nước đã chiến thắng vang dội, từng lá cờ quốc kỳ được treo lên bay phấp phới giữa vùng trời Việt Nam, những tiếng hò reo và anh mừng của mọi người thì người mẹ ấy vẫn luôn tìm dáng dấp những người con trai của mẹ dù bà biết rằng những người con ấy sẽ không trở về:
“Đạn bom đã ngừng bay những vết thương sâu này
Vẫn âm ỉ ngày đêm làm sao nguôi
Hòa bình đến rồi sao những đứa con của tôi
Còn ngủ mãi giữa chiến trường thôi.”
Người mẹ ấy lúc tiễn đưa các con là lưng còn thẳng, ít nếp nhăn.Để rồi khi đất nước yên bình, người ta thấy mẹ lưng còng như một dấu hỏi đầy đau thương vẫn thắp hương cho chín nén linh hồn, vẫn gọi tên từng đứa như thể chúng chỉ vừa đi xa vài hôm. Mẹ từng nói:
“Chúng nó đi còn trẻ lắm… mẹ chỉ nhớ rõ lúc chúng quay lại nhìn mẹ lần cuối.”
Mẹ Rành không chỉ chịu nỗi đau cá nhân, mà còn gánh trên vai trọng trách lịch sử đó chính là nuôi dưỡng tinh thần cách mạng, bảo vệ những chiến sĩ hoạt động bí mật, giữ vườn, đào hầm, theo dõi từng bước tiến của kẻ thù, là hậu phương vững mạnh nhất của những người con chiến sĩ. Sự hy sinh âm thầm nhưng vĩ đại ấy là tấm gương cho thế hệ trẻ hôm nay và tôi cũng tự hỏi lòng hi sinh của Mẹ Rành liệu chúng ta có đủ sâu sắc để ghi nhớ những mất mát của lịch sử? Liệu chúng ta có đủ trân trọng để không lãng phí hòa bình, không phung phí tự do? Mẹ Rành không cần tiếng tạc tượng đài để sống nhưng mỗi khi ta hít thở trong hòa bình, mỗi khi ta sống với nhân ái, với tinh thần trách nhiệm bà lại sống mãi qua hành động và trái tim của biết bao người hôm nay. Vì thế mỗi người chúng ta đều phải tự nhủ:
“Cha ông ta đã trao cho đất nước một thân hình kiêu hãnh.
Còn chúng ta phải trao cho đất nước một tương lai xứng đáng.”



