câu chuyện số 8: ĐẤU TRANH CỦA TÙ BINH CĂNG CÂY DỪA (1953 – 1954)
ĐẤU TRANH CỦA TÙ BINH[1]
- Đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève[2]
Nhờ nắm được tin tức từ bên ngoài về tình hình kháng chiến của nhân dân ta nên Đảng ủy Căng đã chuẩn bị cho anh em tinh thần đối phó với âm mưu thủ tiêu tù binh của địch. Ngày 7-5-1954, Đảng ủy Căng nhận được truyền đơn từ những binh lính có cảm tình với tù binh và anh em đi lao động bên ngoài đưa về nên biết được tin quân ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ; tin Hiệp định Genève được ký kết.
Anh em tổ chức sinh hoạt văn nghệ, thể thao, làm binh vận lôi kéo binh lính địch cùng ta đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, Hiệp ước Trung Giã.
Tên Thiếu tá Đắc tuyên bố nhà tù này thuộc quân đội quốc gia cai quản, “Chính phủ quốc gia không ký Hiệp định nên không có trách nhiệm thi hành”, rồi hắn xé bỏ tờ báo có đăng toàn văn Hiệp định Genève. Hắn còn ra huấn lệnh cho thuộc cấp không thi hành Hiệp ước Trung Giã. Huấn thị viết:
“Tại phân khu biệt lập Phú Quốc chỉ có phân khu trưởng có quyền quyết định về cách thức quản trị tù binh.
Ban giám đốc trại tạm trú chỉ nhận huấn lệnh của Bộ Tham mưu phân khu, ngoài ra không được áp dụng bất cứ một quyết định nào ở bên ngoài đưa lại mà không có sự thỏa thuận trước của thiếu tá phân khu trưởng.
Huấn lệnh này thay thế và bãi bỏ tất cả các điều khoản do Hội nghị Trung Giã ấn định.
L.B.C 4974 ngày 12-8-1954 Thiếu tá Trần Vĩnh Đắc...".
Đoán chắc địch sẽ ngoan cố không thi hành Hiệp định, cuộc họp các Bí thư Liên chi được triệu tập để bàn lãnh đạo toàn Căng đấu tranh đòi thi hành Hiệp định đúng và đầy đủ các điều khoản về tù binh, không được biến Căng thành trại lính hay trại tỵ nạn. Nếu địch không thi hành thì toàn Căng sẽ tổng đình công, tuyệt thực.
Nghị quyết được phổ biến xong thì ngày 9-8-1954, trại C tổ chức đấu tranh đòi nhà cầm quyền trả hết tù binh bị cưỡng bức sang trại Tân binh (trại D) về ba trại cũ để trao trả cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không được ép buộc tù binh đi lính.
Đồng chí Nguyễn Huy Cương kể: Ban Đại diện trại C đã cụ thể hóa kế hoạch đấu tranh như sau:
1. Làm một bản kiến nghị đưa lên Sở Chỉ huy địch vạch tội chúng đối xử tàn tệ với tù binh trại D, đòi chúng phải đưa anh em trở lại các trại bên này; ai trước ở trại nào nay đưa về trại ấy.
2. Tổ chức cuộc đình công tuyệt thực trong trại, mọi việc làm trong, ngoài đều ngưng. Giao đồng chí Vũng (Nguyễn Huy Cương), Đại diện phó phụ trách cuộc đình công.
5 giờ sáng 10-8-1954, hai khẩu hiệu chữ lớn căng dài ở hiên nhà quay sang trại D: “Phản đối hành động đàn áp tù binh trại D của nhà cầm quyền!” và “Yêu cầu trả hết tù ở trại D về ba trại!”, nhằm cho anh em trại D thấy mà đấu tranh.
Khoảng 6 giờ 30 phút, toàn thể tù binh trại C tập trung ngoài sân, sau khi đồng chí Cương phổ biến mục đích cuộc đấu tranh, đa số anh em hô to “đồng ý” và cuộc tuyệt thực bắt đầu.
Đồng chí Cương đưa kiến nghị lên Sở Chỉ huy, lúc đầu địch không chấp thuận. Nhưng sau đó tên Đắc và tên Cơ đem theo một toán lính sang trại C, rồi hắn yêu cầu các anh sang trại D để hỏi ý kiến anh em có muốn về trại cũ không. Anh em trại D đều nhất trí nên hắn phải chấp thuận.
Sau đó, các anh tiếp tục đấu tranh đòi địch phải cung cấp đủ lương thực, thực phẩm để anh em sinh sống, đòi địch cho phá rào ngăn giữa các trại để anh em giao lưu với nhau... Trước sự đấu tranh kiên quyết của anh em, chúng đành chấp thuận.
Ngày 11-8-1954, cả ba trại A, B, C đều tổ chức mít tinh và liên hoan mừng hòa bình lập lại, nửa nước được giải phóng.
Ngày 15-8-1954, cả ba trại tổ chức đọc thư của Hồ Chủ tịch kêu gọi đồng bào cả nước nhân dịp hòa bình lập lại trên toàn Đông Dương.
Ngày 16-8-1954, tù binh tiễn 1.000 anh em xuống con tàu đầu tiên Espérance lên đường từ Phú Quốc về đất liền trao trả tại Sầm Sơn... Sau đó, địch tiếp tục chở hầu hết tù binh về trao trả các nơi như Sài Gòn, Rạch Giá...
Trước đó, một đoàn đại biểu của ba trại gồm 20 người đã ra nghĩa trang tù binh sửa sang phần mộ, thắp hương tưởng niệm và nói lời chia tay với những anh em hy sinh tại đây.
Anh em trở về tiếp tục sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng quê hương, một số trở thành những cán bộ cốt cán của quân đội, của Đảng và chính quyền các tỉnh, thành trong nước.
Tóm lại: Căng Cây Dừa được thành lập từ tháng 7-1953 và chấm dứt hoạt động vào tháng 8-1954, thời gian tồn tại 14 tháng với hai chế độ cai trị: quân đội Pháp trực tiếp cai quản từ tháng 7-1953 đến tháng 11-1953, ngụy quyền cai quản từ ngày 1 tháng 12 năm 1953 đến tháng 8-1954; là một trại giam ra đời trong hoàn cảnh thực dân Pháp đang ngày càng thất bại trên các chiến trường tại Việt Nam. Việc thành lập Căng Cây Dừa nhằm âm mưu “chạy tù” để tiếp tục thực hiện giam giữ những người kháng chiến bị chúng bắt, nhằm vô hiệu hóa một bộ phận không nhỏ lực lượng kháng chiến của ta đồng thời bảo toàn vốn liếng chính trị phòng khi phải hội đàm trao đổi tù binh.
Số lượng tù binh ở Căng Cây Dừa vào thời điểm cao nhất lên tới 14.000 người. Tuy ra đời muộn nhất nhưng đây là nơi có số tù binh đông nhất so với các nhà tù khác của thực dân Pháp ở Đông Dương. Tù binh Căng Cây Dừa có 60% là lực lượng vũ trang (bộ đội và dân quân du kích), 30% là cán bộ chính trị và nghiệp vụ các cấp, các ngành và 10% là dân thường.
Bị đày ra Căng Cây Dừa, tù binh đã quyết sống chết với địch để giữ vững phẩm chất cách mạng và bản lĩnh chính trị. Đến ngày trao trả, các tù binh được trao trả trở về, tiếp tục hòa mình vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây cũng là đặc điểm tiêu biểu của Căng Cây Dừa. Có được chiến công đó, ngoài sự nỗ lực của anh em tù binh đã tự lực tự cường đấu tranh bền bỉ, thì trong đó có vai trò lãnh đạo cực kỳ quan trọng của Đảng bộ và các tổ chức quần chúng.
Đảng ủy Căng Cây Dừa được thành lập từ rất sớm, ngay khi các chuyến tàu đưa tù binh ra đảo. Đảng viên được tôi rèn, thử thách trong chiến đấu, trong đội ngũ quân đội chính quy nên rất vững mạnh, đủ năng lực và uy tín tập hợp quần chúng tù binh, có tầm nhìn và đã chủ động sáng tạo đề ra các chủ trương đúng đắn, phù hợp hoàn cảnh và hành động khéo léo. Đảng bộ Căng xây dựng lực lượng vững mạnh cả về Đảng và các tổ chức quần chúng công khai, bí mật nhằm tới mọi mặt của đời sống tù binh, đồng thời lãnh đạo tù binh không ngừng đấu tranh. Trong xây dựng thì coi trọng cả chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao trình độ văn hóa, hiểu biết chính trị, nâng cao tinh thần đoàn kết tương trợ, xây dựng con người nhằm phục vụ cho yêu cầu cách mạng trước mắt cũng như sau này, tạo nên không khí lạc quan tin tưởng trong khắp Căng. Trong đấu tranh chú trọng từ những cuộc đấu tranh nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao tùy tính chất vụ việc, âm mưu và thái độ của địch. Đảng bộ Căng không ngừng xây dựng lực lượng, chống địch đàn áp, khủng bố, chăm lo đời sống tù binh, kiên trì công tác địch vận, tích cực tranh thủ thời cơ vượt ngục. Cả hai mặt xây dựng và đấu tranh nhằm mục đích, yêu cầu thiết thực, hình thức, phương pháp uyển chuyển, không cứng nhắc, nhằm đạt được kết quả bảo vệ tù binh. Vì vậy, Đảng bộ Căng đã đoàn kết được quần chúng, được quần chúng tin tưởng, “nhất hô bá ứng”, thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Chính phủ. Đó chính là bài học sâu sắc nhất mà Đảng bộ Căng Cây Dừa đã làm được và có giá trị giúp cho Đảng ta rút kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Đảng.
Công tác xây dựng Đảng ở Căng Cây Dừa có những lợi thế và cũng là nét đặc thù riêng so với các nhà tù, trại giam khác của thực dân Pháp. Thời gian đầu, địch không đủ sức quản lý sâu vào các trại tù, chỉ nắm qua Ban Đại diện công khai với địch. Lợi thế này đã giúp Đảng ủy Căng tổ chức, xây dựng một bộ máy đại diện công khai quan hệ với địch, công khai tiến hành công việc của nội bộ người tù với những con người ưu tú, có bản lĩnh chính trị vững vàng đủ sức lãnh đạo mọi mặt trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của tù binh, tiến hành các hoạt động trong Căng một cách dân chủ và được quần chúng tin tưởng, hỗ trợ.
Mặc dù địch đã phát hiện và ráo riết tìm cách đánh phá, đặc biệt đầu năm 1954 liên tục hai tháng liền, chúng tổ chức nhiều đợt đánh phá tổ chức Đảng, xóa chế độ đại diện, lập chế trại trưởng, nhưng trước sự đoàn kết đấu tranh của tù binh, địch đã thất bại và phải nhượng bộ cho đến ngày chúng trao trả anh em về với cách mạng.
Đảng ủy Căng Cây Dừa tồn tại và phát triển trong điều kiện không có sự chi viện của bên ngoài, không nhận được sự chỉ đạo của cấp trên nên phải độc lập tác chiến, tự lực, tự cường, sáng tạo nhưng đã chiến thắng mọi âm mưu đánh phá tổ chức Đảng và chính quyền tự quản của Căng, đó là nhờ Căng Cây Dừa có đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đảng bộ Căng Cây Dừa có sự tin tưởng sắt son vào Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ, nắm vững đường lối chính sách của Đảng, áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của trại giam.
Đảng bộ Căng đã hết lòng phục vụ quần chúng tù binh, năng động, sáng tạo, được tổ chức bài bản và có tính kỷ luật cao. Vì vậy, Đảng bộ đã làm được điều quan trọng nhất: giữ vững khối đại đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau để bảo vệ Đảng và chính quyền quần chúng. Đảng tin quần chúng, quần chúng tin Đảng, nghe theo Đảng... Hơn 99% số tù binh Căng Cây Dừa đã đoàn kết chặt chẽ, không phân biệt Bắc - Trung - Nam, tôn giáo, dân tộc đã quy tụ trong một tổ chức cách mạng của Đảng. Nhờ vậy mà tạo nên sức mạnh đấu tranh với kẻ thù giành thắng lợi, giúp tù binh bảo vệ được khí tiết cách mạng và góp phần cùng quân dân cả nước chiến thắng kẻ thù xâm lược[3].
[1] Huy Ninh, Phú Quốc Sống dội Hòn Dừa, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Hưng, 1991, tr. 97-120. [2] Huy Ninh, Phú Quốc - Sóng dội Hòn Dừa, 1993, Sđd, tr. 239 - 241. [3] Huyền thoại Phú Quốc, Nxb. Lao động - Xã hội, 2008, tr. 84-88 (Nguyễn Đức Dụ, Căng Cây Dừa, ý chí và hành động cách mạng của người chiến sĩ).



