CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
TRƯỜNG THCS NINH HIỆP
Lớp: 9A5
Học sinh: LÊ HƯƠNG GIANG
BÀI VIẾT THAM DỰ
ĐỀ ÁN “CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA”
Chiều chủ nhật, tôi đến thăm bác Vũ Thị Thịnh. Bác năm nay đã 72 tuổi, là một cựu nữ thanh niên xung phong từng phục vụ chiến trường miền Nam. Còn tôi mới 14 tuổi, biết về chiến tranh qua những bài học lịch sử, những bộ phim và vài câu chuyện người lớn kể.
Hôm ấy, tôi mang theo cuốn sổ nhỏ, định nhờ bác kể chuyện để chuẩn bị cho chương trình “Câu chuyện thời hoa lửa” ở trường. Trong căn nhà yên tĩnh, bác ngồi bên cửa sổ. Ánh nắng cuối chiều rọi lên mái tóc bạc. Tôi kéo ghế ngồi cạnh, xin phép bác ghi lại cuộc trò chuyện.
Tôi: Bác ơi, ở trường cháu sắp có chương trình kể chuyện về những năm tháng chiến tranh. Bác kể cho cháu nghe chuyện ngày trước bác đi thanh niên xung phong được không ạ?
Bác Thịnh: Được chứ. Chuyện lâu rồi, có việc bác còn nhớ rõ, có việc phải ngồi nghĩ lại. Cháu muốn biết điều gì?
Tôi: Cháu muốn biết cuộc sống giữa chiến trường như thế nào. Trong sách có nói đến bom đạn, gian khổ, nhưng cháu vẫn khó hình dung lắm.
Bác Thịnh: Năm 1972, bác lên đường làm thanh niên xung phong phục vụ chiến trường miền Nam. Những năm ấy chiến tranh ác liệt. Có lúc công việc đang làm phải dừng lại vì máy bay đến. Tiếng bom nổ làm đất rung, tai ù đi. Chỉ mong mọi người kịp vào chỗ trú an toàn.
Tôi: Những lúc ấy bác có sợ không?
Bác Thịnh: Sợ chứ cháu. Nghe tiếng máy bay là đã lo rồi. Khi bom dứt, việc đầu tiên là gọi tìm nhau. Nghe tiếng đồng đội trả lời mới thấy nhẹ lòng.
Tôi: Cháu cứ nghĩ đi qua chiến tranh rồi thì các bác sẽ quen với tiếng bom, không còn sợ nữa.
Bác Thịnh: Biết cách tìm chỗ trú, biết phải làm gì thì đỡ lúng túng hơn. Nhưng ai cũng muốn được sống, được trở về với gia đình. Vẫn sợ, rồi nhờ có đồng đội mà động viên nhau làm tiếp công việc.
Tôi: Cuộc sống hằng ngày có thiếu thốn nhiều không bác?
Bác Thịnh: Có chứ. Ăn ở, sinh hoạt đều khó khăn. Những hôm mệt, những lúc đau ốm lại càng nhớ nhà. Chị em ở cùng nhau thì chăm sóc, đỡ đần nhau. Có chút gì ăn thêm cũng chia nhau.
Tôi: Xa nhà như thế, bác có hay khóc không?
Bác nhìn tôi rồi mỉm cười.
Bác Thịnh: Có. Hồi ấy bác cũng còn trẻ mà. Ban ngày làm việc thì đỡ nhớ, đến lúc nằm nghỉ lại nghĩ đến người thân. Có người quay mặt đi lau nước mắt, người bên cạnh biết thì khẽ hỏi chuyện, an ủi.
Tôi: Thế các bác có lúc nào được vui không ạ?
Bác Thịnh: Vẫn có chứ. Lúc nghỉ, chị em kể chuyện quê mình, trêu nhau, hát cho nhau nghe. Nhận được thư nhà thì vui lắm. Một lá thư cứ lấy ra đọc đi đọc lại.
Tôi cúi xuống viết. Những điều bác kể giản dị hơn tôi hình dung. Giữa tiếng bom đạn vẫn có người nhớ nhà, có tiếng hát và những lá thư được nâng niu.
Tôi: Nghe bác kể, cháu thấy đi chiến trường vừa nguy hiểm, vừa vất vả. Vậy hồi ấy vì sao bác lại quyết định đi ạ?
Bác Thịnh: Thấy mọi người lên đường, bác cũng muốn góp sức. Người chiến đấu, người phục vụ chiến trường. Bác nghĩ mình còn trẻ, có thể làm được việc thì xin đi.
Tôi: Bác đăng ký là được nhận ngay phải không ạ?
Bác bật cười, lắc đầu.
Bác Thịnh: Đâu có dễ thế. Bác còn lo mình không đủ tiêu chuẩn. Người bác hồi ấy nhỏ, nhẹ cân.
Tôi: Vậy bác phải làm sao?
Bác Thịnh: Bác đã giấu thêm gạch vào người để đủ cân nặng.
Tôi ngẩng lên, ngỡ mình vừa nghe nhầm.
Tôi: Giấu gạch vào người thật hả bác?
Bác Thịnh: Thật. Chỉ sợ thiếu cân rồi không được nhận, nên bác mới nghĩ ra cách ấy.
Tôi: Cháu chưa từng nghe chuyện này! Bác biết phía trước có bom đạn mà vẫn tìm cách để được đi sao?
Bác Thịnh: Hồi ấy mong được lên đường lắm. Cứ nghĩ mình làm được, mình phải cố xin đi. Bây giờ nhớ lại, cũng thấy mình liều.
Tôi: Năm 1972, bác khoảng 18 tuổi… chỉ hơn cháu bây giờ bốn tuổi thôi.
Bác Thịnh: Ừ, còn trẻ lắm cháu ạ.
Tôi nhìn bác. Thật khó hình dung người đang ngồi trước mặt mình, mái tóc đã bạc, từng là một cô gái nhỏ tìm cách giấu gạch vào người để được lên đường.
Tôi: Khi đã vào chiến trường, gặp gian khổ như bác vừa kể, có lúc nào bác tiếc vì mình đã làm thế không?
Bác Thịnh: Có lúc mệt, lúc sợ, lúc nhớ nhà đến phát khóc. Nhưng bác không tiếc vì đã lên đường. Ở đó còn có đồng đội, mọi người cùng cố gắng, cùng đỡ đần nhau.
Tôi: Bây giờ nhớ lại, điều gì khiến bác xúc động nhất?
Nụ cười trên gương mặt bác lắng xuống.
Bác Thịnh: Là những người đồng đội không trở về. Bác được sống đến hôm nay, có gia đình, có cháu ngồi đây hỏi chuyện. Còn có người mãi mãi ở lại khi tuổi đời còn rất trẻ.
Tôi đặt bút xuống. Ngoài sân, tiếng lá xào xạc trong gió. Tôi ngồi yên một lúc rồi mới hỏi tiếp.
Tôi: Bác có muốn chúng cháu nhớ điều gì khi nghe những câu chuyện này không ạ?
Bác Thịnh: Bác mong các cháu biết quý những ngày được sống yên bình, được đến trường. Chăm học, biết giúp đỡ gia đình, sống có trách nhiệm với mọi người. Những việc ấy các cháu đều có thể làm từ bây giờ.
Tôi: Cháu sẽ kể lại chuyện của bác cho các bạn nghe. Nhưng trước hết, cháu muốn đọc lại để bác xem cháu đã ghi đúng chưa.
Bác Thịnh: Ừ, chỗ nào chưa rõ thì cứ hỏi bác.
Rời nhà bác, tôi bước chậm trên con đường quen thuộc. Tiếng trẻ con gọi nhau chơi, tiếng xe đạp leng keng, mùi cơm chiều từ một căn bếp nhỏ… Những điều ngày nào tôi cũng gặp, hôm nay bỗng khiến tôi chú ý hơn. Tôi nhớ lời bác: ngày ấy, bác và đồng đội chỉ mong được trở về, sống những ngày yên bình như thế.
Tôi ôm cuốn sổ vào ngực. Ở tuổi 14, tôi chưa thể hiểu hết những gì bác đã trải qua. Nhưng tôi sẽ nhớ cô gái Vũ Thị Thịnh năm 1972, vì sợ không đủ cân nặng mà giấu thêm gạch vào người để được lên đường. Tôi cũng sẽ nhớ khoảng lặng của bác khi nhắc đến những người đồng đội không trở về.
Bài kể chuyện ở trường rồi sẽ kết thúc, nhưng những điều tôi muốn hỏi bác vẫn còn nhiều lắm. Tôi tự nhủ sẽ sớm trở lại, ngồi bên bác và mở tiếp cuốn sổ. Tôi muốn nghe khi bác còn có thể kể, muốn ghi lại thật đúng để một ngày nào đó, các bạn của tôi cũng được biết về người con gái nhỏ bé đã lên đường giữa những năm tháng đạn bom.


