CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhập ngũ năm 1967, Đơn vị Trinh sát Đặc công, thuộc Sư đoàn 31, Quân khu 4. Là đơn vị quân tình nguyện, trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu cùng quân và dân Lào.
Việt – Lào hai nước anh em, tuy khác nhau về văn hóa và địa lý, xong cùng chung 01 kẻ thù xâm lược. Chiến tranh như sinh ra người lính – người lính có trách nhiệm bảo vệ hạnh phúc cho nhân dân và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, những năm tháng chiến đấu trên đất nước Lào anh em, trong chiến đấu nhiều kỷ niệm lắm – có những kỷ niệm nhắc đến là nước mắt tuôn trào. Câu chuyện sau đây liên quan đến nhiệm vụ trinh sát đặc công – bám thắt lưng địch. Theo dõi quy luật hoạt động của địch là nhiệm vụ của lính trinh sát. Điển hình là chiến dịch 139, năm 1970 – 1971, Đại đội chúng tôi được lệnh bắt tù binh để khai thác tài liệu cho chiến dịch. Biết công việc này là khó, nguy hiểm, nhưng là mệnh lệnh, là thử thách và là cơm bữa của nghề lính trinh sát, chúng tôi đã được đào tạo qua nhiều lần thực hiện nhiệm vụ. Đại đội quyết định cử nhóm trinh sát gồm 05 đồng chí, gồm 01 Trung đội trưởng phụ trách, 01 A trưởng là tôi cùng 03 chiến sĩ. Nhận lệnh lên đường ngày 28/8/1971, chúng tôi bám trục đường từ bốt nọ sang bốt kia. Ngày thứ nhất theo dõi quy luật đi lại và bí mật bày binh, bố trận, chỉ huy trách nhiệm khóa đầu, khóa đuôi và khai hỏa. Đến khoảng 10h00 sáng, thời tiết nóng nực, chúng tôi đang bóc lương khô ăn chống đói thì bất ngờ nghe thấy 05 tiến đạn nổ cách bốt chúng tôi khoảng 500m. 10 phút sau chúng tôi nghe thấy tiếng sủa của 01 con chó dẫn đường cho tên lính. Con chó dẫn tên lính chạy gần đến nơi đội hình chúng tôi đang phục kích, chúng tôi được lệnh nổ súng, đồng loạt 05 khẩu AK nổ vang, thế là tên lính kia đứng im, run cầm cập. Chúng tôi đồng loạt hô to và dứt khoát bằng tiếng lào: “Nhoom chạ nhoắng, bó nhoom cha tai”, Nghĩa là: “Đầu hàng thì sống, không hàng thì chết”. Chớp nhoáng chỉ trong khoảng 3 phút chúng tôi đã bắt sống, thu hồi được vũ khí và trang bị của tên lính kia. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chúng tôi nhanh chóng rút về căn cứ của quân ta an toàn. Đến năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất bác xuất ngũ trở về địa phương. Qua câu chuyện trên bác muốn gửi gắm đến thế hệ thanh niên Việt Nam biết rằng để có được sự độc lập, tự do và hòa bình trên đất nước ta hiện nay biết bao nhiêu thế hệ anh hùng đã ngã xuống. Vì vậy, bác mong muốn thanh niên Việt Nam hãy trân quý, giữ gìn nền độc lập, tự do, hòa bình này, đồng thời phát huy nhiệt huyết, tư duy, sức trẻ để xây dựng đất nước chúng ta phát triển hùng cường, sánh ngang với các cường quốc năm châu.


