Câu chuyện thời hoa lửa (157)
Anh hùng Trịnh Tố Tâm và Chiến thuật "vành đai diệt Mỹ" phục kích bằng mìn tự chế trên đất Quảng Trị năm 1968.
Quảng Trị những năm 1968 là chiến trường khốc liệt nhất, nơi quân đội Mỹ áp dụng các chiến thuật tối tân nhất như "tìm và diệt" bằng trực thăng vận và thiết xa vận để thiết lập các vùng trắng không người nhằm cắt đứt tuyến hậu cần của ta. Để đối phó với sức mạnh cơ giới vượt trội của địch, Đại đội trưởng Trịnh Tố Tâm thuộc Trung đoàn 246, Quân khu Trị Thiên đã sáng tạo ra chiến thuật "vành đai diệt mìn", biến mọi ngả đường, bờ mương thành những bẫy tử thần khiến bộ binh và xe bọc thép Mỹ hoảng loạn, không dám rời khỏi căn cứ.
Trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh mùa hè năm 1968, đơn vị của Trịnh Tố Tâm được giao nhiệm vụ chốt chặn, không cho một lữ đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ tiến cứu các cứ điểm đang bị vây lỏng. Nhận thấy địa hình Quảng Trị có nhiều lối đi độc đạo ven các triền đồi, anh đã chỉ huy các chiến sĩ thu gom các quả bom, đạn pháo lép của địch, đem về tháo dỡ thuốc nổ để chế tạo thành hàng trăm quả mìn định hướng, mìn gạt có sức công phá cực lớn.
Anh trực tiếp dẫn đầu các tổ chiến đấu bí mật luồn sâu vào sát hàng rào căn cứ địch để gài mìn. Khi các đoàn xe bọc thép M-113 của Mỹ vừa nghênh ngang xuất phát, Trịnh Tố Tâm đã mưu trí chờ cho chiếc xe đi đầu và chiếc xe đi cuối vào đúng tầm ngắm mới phát lệnh giật nổ liên hoàn. Các khối mìn tự chế nổ tung xé toạc các lớp bọc thép, khóa chặt toàn bộ đội hình địch giữa thung lũng. Ngay sau đó, anh chỉ huy đơn vị dùng súng bắn tỉa và lựu đạn tập kích chớp nhoáng rồi nhanh chóng rút lui an toàn vào lòng đất bám trụ. Với lối đánh xuất quỷ nhập thần này, riêng cá nhân Trịnh Tố Tâm đã trực tiếp chỉ huy đánh 58 trận, phá hủy hàng chục xe cơ giới và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, được mệnh danh là "con hùm xám" của vành đai diệt Mỹ Quảng Trị. Khí phách kiên cường của anh đã minh chứng cho sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Nguồn: "Lịch sử Quân khu Trị Thiên - Huế (1945 - 1975)", Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1998.



