Bài viết

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA :AHLLVTND PHAN ĐÌNH GIÓT (1)

PHAN ĐÌNH GIÓT – NGỰC TRẦN LẤP LỖ CHÂU MAI, VIẾT NÊN HUYỀN THOẠI ĐIỆN BIÊN _“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Chiến sĩ anh hùng Đầu nung lửa sắt... Những đồng chí chèn lưng cứu pháo Nát thân, nhắm mắt, còn ôm...”_

Gia Lai09/05/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại Học Quy Nhơn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại Học Quy Nhơn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những câu thơ của Tố Hữu năm nào vẫn vang vọng đến hôm nay. Trong những “đồng chí chèn lưng cứu pháo" ấy, có một người con xứ Nghệ đã lấy chính lồng ngực mình bịt kín họng súng quân thù, mở toang cánh cửa thép Him Lam: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Đình Giót. Câu chuyện về anh là một bản anh hùng ca bi tráng nhất của "thời hoa lửa", là minh chứng cho một chân lý: Khi Tổ quốc cần, người Việt Nam có thể làm nên những điều phi thường nhất.

Câu chuyện được chia sẻ từ sinh viên Trần Thị Huỳnh Như lớp Trung Quốc học k48

Phan Đình Giót sinh năm 1922 tại làng Vĩnh Yên, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, trong một gia đình nông dân nghèo. Mất cha từ nhỏ, anh lớn lên trong đói khổ và nỗi căm thù giặc Pháp đang ngày đêm cướp bóc, đốt phá xóm làng. Những trận càn, những bãi bắn người của thực dân đã sớm khắc vào tâm trí cậu bé Giót một khát vọng: phải đánh đuổi quân xâm lược.

Năm 1950, khi tiếng súng kháng chiến chống Pháp lan rộng, người thanh niên 28 tuổi ấy đã giã từ mẹ già, từ biệt xóm làng để khoác lên mình màu áo vệ quốc đoàn. Trước bàn thờ cha, anh thắp nén hương và khấn: “Con đi trả thù cho cha, cho dân làng. Sống làm người chiến sĩ, chết làm ma tự do”. Lời thề ấy đã theo anh suốt 4 năm quân ngũ, cho đến hơi thở cuối cùng.

Vào quân đội, từ một nông dân “chân lấm tay bùn”, Phan Đình Giót nhanh chóng trưởng thành. Anh được biên chế vào Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316. Bằng sự gan dạ, mưu trí và lòng thương yêu đồng đội hết mực, anh được tín nhiệm làm Tiểu đội trưởng, rồi Đại đội phó. Đồng đội vẫn nhớ mãi hình ảnh người anh cả: ít nói, hay cười hiền, nhưng khi xung trận thì luôn là người lao lên đầu tiên và rút về sau cùng.

Cuối năm 1953, Đại đoàn 316 nhận lệnh bí mật của Bộ Tổng tư lệnh: “Kéo pháo vào Điện Biên Phủ”. Đó là một nhiệm vụ tưởng chừng không thể. Từ Tuần Giáo vào Mường Phăng, phải kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn qua dốc Pha Đin, đèo Lũng Lô bằng sức người.

Đêm đêm, trên những con đường cheo leo, bóng anh Giót luôn đi đầu tiểu đội bộc phá mở đường. Mưa rừng tầm tã, dây kéo pháo đứt, khẩu pháo 105mm chực lao xuống vực. Không một giây chần chừ, anh Giót hô lớn: “Anh em, chết thì chết, không để mất pháo!”, rồi lao cả thân mình vào chèn bánh pháo. Hai mươi chiến sĩ cùng anh ghì lại. Khẩu pháo được cứu, nhưng lưng anh tóe máu vì va vào đá tai mèo.

Suốt bốn tháng trời, kéo pháo vào rồi lại kéo ra theo quyết định của Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đôi vai anh chai sần, đôi bàn chân rớm máu. Gian khổ là thế, nhưng anh chỉ cười: “Còn giặc thì còn kéo. Bao giờ hết giặc mới hết kéo”. Ý chí ấy của anh, của hàng vạn người lính Điện Biên, chính là biểu hiện cao nhất của tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

16 giờ 25 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954, tiếng pháo lệnh từ Mường Thanh nổ vang, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại đội 58 của Phan Đình Giót được giao một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng: đánh chiếm lô cốt số 3 trên đồi Him Lam – “cánh cửa thép” án ngữ phía đông bắc của tập đoàn cứ điểm.

Lô cốt này nằm trên mỏm đồi cao nhất, được bao bọc bởi hàng rào dây thép gai dày đặc và những hỏa điểm đại liên bắn chéo cánh sẻ. Ba đợt xung phong của ta đều bị hỏa lực địch chặn đứng, thương vong rất lớn. Tiểu đội của anh Giót lúc này chỉ còn lại 4 người, bản thân anh cũng đã bị thương vào đùi, máu thấm đỏ cả quần.

Nhìn đồng đội ngã xuống, nhìn đợt xung phong thứ tư sắp bắt đầu, anh Giót hiểu: nếu không diệt được hỏa điểm này trong vài phút nữa, cả đại đội sẽ bị xóa sổ trước hàng rào. Không một chút do dự, anh xin đại đội trưởng 200 quả lựu đạn, buộc thành hai khối bộc phá. Một mình, anh lợi dụng địa hình, bò lên nhích từng phân dưới làn đạn địch.

Quả bộc phá thứ nhất nổ, quả thứ hai nổ, lô cốt rung lên, khói bụi mù mịt. Nhưng từ lỗ châu mai, khẩu đại liên của địch vẫn khạc lửa, quét từng tràng vào đội hình quân ta. Tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Lựu đạn đã hết. Xung phong thì bị bắn gục. Thoái lui thì không còn đường. Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, Phan Đình Giót đã đưa ra một quyết định đi vào lịch sử.

Anh nén đau, quỳ gối, lấy hết sức tàn rướn người, rồi dùng tấm ngực trần của mình bịt kín lỗ châu mai đang phun lửa. Hàng chục viên đạn đại liên xuyên thẳng vào người anh. Toàn thân anh bị bắn nát, nhưng cũng chính lồng ngực anh đã bịt kín họng súng giặc. Hỏa điểm đột ngột câm bặt.

“Xung phong! Trả thù cho đồng chí Giót!” – tiếng Đại đội trưởng vang lên như xé toạc màn đêm. Cả đại đội ào lên như một cơn lốc. 22 giờ 30 phút, lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” tung bay trên nóc lô cốt số 3. Cứ điểm Him Lam hoàn toàn thất thủ, mở toang cánh cửa cho đại quân ta tiến vào trung tâm Mường Thanh.

Khi đồng đội lên tới nơi, anh Giót đã hy sinh. Trên ngực anh chi chít 26 vết đạn. Anh ra đi ở tuổi 32, cái tuổi đẹp nhất của đời người, khi chưa kịp có một mái ấm riêng.

Tin Phan Đình Giót hy sinh bay về Sở chỉ huy Mường Phăng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xúc động nói: “Tấm gương của Phan Đình Giót đã làm cho tất cả chúng ta thêm tin tưởng ở thắng lợi”. Ngày 31 tháng 3 năm 1955, anh được Quốc hội truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Anh là một trong bốn anh hùng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, cùng với Cù Chính Lan, La Văn Cầu, Nguyễn Quốc Trị.

Hôm nay, về với Điện Biên, trên đồi A1, trong Nghĩa trang Liệt sĩ, ngôi mộ anh nằm đó, giản dị mà uy nghiêm. Trên đồi Him Lam, dấu tích lô cốt năm xưa vẫn còn, như một nhân chứng câm lặng kể về sự hy sinh phi thường. Ở quê nhà Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, đền thờ anh quanh năm nghi ngút khói hương.

70 năm đã trôi qua kể từ chiều Him Lam lửa máu, nhưng câu chuyện “lấy thân mình lấp lỗ châu mai” vẫn được kể lại cho mọi thế hệ học sinh Việt Nam. Bởi đó không chỉ là câu chuyện về một cái chết. Đó là câu chuyện về một sự lựa chọn. Giữa sống và chết, anh đã chọn chết để đồng đội được sống. Giữa cá nhân và Tổ quốc, anh đã chọn Tổ quốc.

Phan Đình Giót không chết. Anh đã hóa thân vào đất nước, hóa thành tượng đài sừng sững trong lòng dân tộc. Anh đã dạy chúng ta rằng: cuộc sống đẹp nhất là cuộc sống vì mọi người, và cái chết vinh quang nhất là cái chết cho Tổ quốc.

Thời hoa lửa đã qua đi, nhưng ngọn lửa từ lồng ngực anh Phan Đình Giót vẫn cháy. Nó đang hỏi mỗi người trẻ chúng ta hôm nay: Khi Tổ quốc cần, bạn có dám quên mình như anh không?

_“Anh ngã xuống cho đất nước đứng lên

Máu anh thấm vào lòng đất Điện Biên

Cho hôm nay và cho mãi mãi

Tổ quốc Việt Nam, rạng rỡ tên Người!”_

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn