Khác

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN

Quảng Ninh30/09/2026Xã Vị Xuyên (Đoàn xã Vị Xuyên)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN

““Mẹ ơi con bước vào trang sử

Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca

Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà

Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa

Ngày mai đây giữa khung trời yên ả

Hồn con thành tia nắng ấm quê ta.”

Thời gian dẫu có vô tình chảy trôi, phủ lớp bụi mờ lên vạn vật, nhưng những ký ức về một thời “máu và hoa” vẫn luôn là ngọn lửa rực cháy, khắc sâu trong tâm khảm của muôn triệu người con đất Việt. Dưới những trận mưa bom bão đạn tàn khốc, những chàng trai mang trên mình tuổi đôi mươi thanh xuân tươi đẹp nhất vẫn cất cao tiếng hát, cười vang chốn chiến hào. Nơi rừng sâu nước độc, họ sưởi ấm cho nhau bằng tình đồng đội keo sơn, san sẻ từng giọt nước nhạt, từng lát khoai lùi vội. Có những người đã vĩnh viễn ngã xuống, hòa vào lòng đất mẹ khi lời từ biệt chưa kịp trao vội trên môi, nhưng những người ở lại vẫn luôn vững bước cùng lời thề sắt son: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa”. Từ chảo lửa Điện Biên oanh liệt, qua những năm tháng xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, cho đến những ngày bám trụ kiên cường bảo vệ biên cương, những người lính ấy luôn mang trong mình một tinh thần thép cùng trái tim rực cháy tình yêu quê hương và niềm tin tất thắng chói lòa.


image.png

 

Hòa vào bản hùng ca bi tráng ấy, ta tìm về mùa thu lịch sử năm 1950. Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của non sông, cùng quân dân cả nước kiên cường đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công phá vỡ phòng tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn của thực dân Pháp, chàng trai trẻ Phạm Trí Liên (sinh năm 1930, hiện trú tại tổ dân phố Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy vừa tròn 20 tuổi đã quyết định gác lại bút nghiên, từ giã chốn quê nhà bình yên để lên đường tòng quân cứu nước. Nhớ lại những năm tháng hoa lửa, đôi mắt người cựu binh già như sáng lên, ông bồi hồi kể  những đêm hành quân xuyên rừng thẳm, đối mặt với đạn pháo quân thù, với muôn vàn bệnh tật và sự thiếu thốn cùng cực cả về lương thực lẫn thuốc men. Chiến tranh tàn khốc là thế, ranh giới sinh tử chỉ mỏng manh như sợi chỉ. Có những người đồng đội của ông đã bị mảnh đạn cướp đi ánh sáng đôi mắt, có người gửi lại một phần thân thể, mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn ác liệt. Dẫu vậy, nén lại những đớn đau, các chiến sĩ ta vẫn kiên cường, hiên ngang tiến về phía trước, quyết tâm thực hiện vẹn tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả.

 

image.png

Ký ức đưa ông trở về cung đường số 4, đoạn qua đèo Bông Lau – Lũng Phầy dài gần chục cây số. Nơi đây thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp ranh tỉnh Cao Bằng, mang một địa thế hiểm trở bậc nhất với một bên là núi cao dựng đứng, một bên là khe sâu hun hút. Con đường đèo vắt ngang sườn núi ấy được ví như “cửa tử” của những thế trận phục kích. Trên cương vị là lính trinh sát, những ngày sôi động ấy, chàng lính trẻ Phạm Trí Liên thường xuyên băng rừng lội suối, đi thực địa kiểm tra giữa địa hình mấp mô, cây cối um tùm. Dưới sự mưu trí của quân ta, các tổ, đội công tác đã âm thầm đào hệ thống công sự kéo dài hàng km, giăng sẵn trận địa súng cối và súng bazooka. Chỉ cần tiếng động cơ ô tô địch rền rĩ vang lên là lực lượng ta lập tức xuất kích, vây đánh quyết liệt. Những trận đánh oai hùng ấy đã đập tan ý chí của quân thù, phá hủy hoàn toàn 53 chiếc xe, thiêu rụi 10 vạn lít xăng, tiêu diệt gọn 250 tên lính Âu – Phi, trong đó có 2 sĩ quan chỉ huy. Đêm ngày 10/10/1950 trở thành một mốc son chói lọi khi huyện Tràng Định hoàn toàn được giải phóng. Ngay trong đêm lịch sử ấy, trên đường đi chỉ huy chiến dịch, Bác Hồ kính yêu đã đến thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ đại đoàn 308 cùng nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu – Đông 1950 không chỉ làm phá sản hoàn toàn dã tâm quân sự, chính trị của thực dân Pháp, mà còn khai thông 750 km đường biên giới Việt – Trung cùng 35 vạn dân, đập tan vòng vây kìm kẹp, mở ra một trang sử mới cho căn cứ địa Việt Bắc.

 

Sau chiến công vang dội ấy, ông Liên tiếp tục lui về tuyến sau, nhận nhiệm vụ tiếp tế hậu phương cho các chiến dịch lớn như Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh.... Cho đến đầu năm 1954, khi thực dân Pháp dồn sức xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm khổng lồ với 49 cứ điểm chia làm 3 phân khu, hòng biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm” để giăng bẫy, “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Đứng trước vận mệnh nghìn cân treo sợi tóc của dân tộc, theo tiếng gọi của Bác Hồ và Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại một lần nữa anh dũng bước vào cuộc trường chinh vĩ đại. Người lính Cụ Hồ Phạm Trí Liên lại khoác ba lô, tiếp tục xông pha nơi tuyến đầu máu lửa. Hành quân lên chiếm lĩnh những điểm cao chiến lược, ông không thể nào quên những gian truân tột cùng khi địa hình đồi núi dốc đứng, không có đường cơ động, lại thường xuyên thiếu thốn nước uống trầm trọng. Phải mất rất nhiều ngày ròng rã nếm mật nằm gai, các anh em mới có thể chiếm lĩnh được trận địa. Giữ chức Trung đội phó, ông được giao trọng trách dùng hỏa lực bắn từ xa nhằm trấn áp quân địch. Vẫn còn đó nguyên vẹn niềm tự hào khi ông kể về buổi sáng sớm tinh mơ, nhận lệnh từ sư đoàn, ông cùng đồng đội dũng cảm ôm khẩu súng cối 160 li, nấp ngay sau chiến hào nã đạn thẳng vào đội hình quân Pháp đang tập thể dục, tiêu diệt 12 tên và làm bị thương nặng 2 kẻ địch. Quả cảm hơn nữa là lần địch tháo chạy, ông cùng các chiến sĩ đã ôm pháo dũng mãnh truy kích, đánh tan ý đồ rút lui của chúng, chiến đấu kiên cường đến mức gần như cả trung đội kiệt sức không ai còn đi nổi. Sự khốc liệt của chiến tranh còn hằn in qua những ngày quân tiếp tế không thể lên tới nơi, những người lính phải cắn răng ăn muối trắng, uống nước sông đục ngầu, mệt nhoài trong cơn đói lả. Ông trầm ngâm: “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”.

 

Chiến đấu oanh liệt được gần một tháng, máu xương của người lính trẻ đã đổ xuống chiến hào. Trong một trận pháo kích, ông bị thương nặng, phải lui về bệnh xá để điều trị trong suốt phần còn lại của chiến dịch. Thế nhưng, đớn đau thể xác không làm gục ngã ý chí kiên cường của người chiến sĩ. Ngay khi vừa bình phục, có thể gắng gượng đi lại, ông đã sát cánh cùng các y bác sĩ chăm sóc cho những đồng đội thân yêu, đồng thời thỉnh thoảng vẫn không quên nhiệm vụ theo dõi động tĩnh quân thù để báo tin về trung đoàn. Và rồi, khoảnh khắc thiêng liêng nhất cũng đến, ngày nhận tin quân ta đại thắng, mọi đớn đau, nhọc nhằn trong ông dường như tan biến hết. Hạnh phúc vỡ òa khi người lính ấy cuối cùng cũng được trở về bình an trong vòng tay ấm áp, xót xa mà yêu thương vô ngần của mẹ hiền và gia đình. Dẫu 71 năm dằng dặc đã trôi qua, lớp bụi thời gian dường như bất lực trước những ký ức rực lửa trên chiến trường Điện Biên. Bởi lẽ, đó là quãng đời thanh xuân đẹp đẽ và rực rỡ nhất, nơi những người lính như ông đã dùng máu đào và tuổi trẻ để dệt nên một thiên sử vàng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.


 

Cuộc đời bình dị mà vĩ đại của cựu chiến binh Phạm Trí Liên chính là một bản trường ca bất diệt về lòng yêu nước nồng nàn, về đức hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng cao cả của cả một thế hệ vàng son. Câu chuyện của ông không chỉ là những trang nhật ký chiến trường, mà còn là một bài học vô giá, là ngọn lửa thiêng liêng truyền mãi cho muôn đời sau về tinh thần phụng sự Tổ quốc. Lời căn dặn nghẹn ngào của người lính già: “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay” sẽ mãi là khúc vĩ thanh ngân vang, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay và mai sau về cái giá của độc lập, tự do, để sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của các bậc cha anh đi trước.Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.

 

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau – Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu – Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt – Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

 

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu”, cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi... 71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng “lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

 

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay”, ông Liên nghẹn ngào.

Khép lại những trang hồi ức rực lửa vang bóng một thời, cuộc đời của cựu chiến binh Phạm Trí Liên hiện lên như một bản trường ca bất diệt về lòng yêu nước nồng nàn, về đức hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng vĩ đại của cả một thế hệ “áo vải chân không” đã hiên ngang đi vào lịch sử. Giữa dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, câu chuyện đời ông không chỉ dừng lại ở những dòng tư liệu quá khứ, mà đã trở thành một bài học giáo dục sâu sắc, một ngọn lửa thiêng liêng truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự chưa bao giờ tắt. Ông chính là một “nhân chứng sống”, một gạch nối vàng son kiêu hãnh giữa quá khứ hào hùng và hiện tại hòa bình của dân tộc.

Đứng trước dòng thời gian, ngắm nhìn giang sơn gấm vóc hôm nay, giọng nói của người lính năm xưa bỗng nghẹn ngào, chất chứa biết bao nỗi niềm cùng kỳ vọng gửi gắm vào mai sau:

“Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay”.

 Lời căn dặn mộc mạc mà đau đáu ấy cất lên từ sâu thẳm tâm can của một người đã từng bước qua lằn ranh sinh tử, nghe như có tiếng vọng thiêng liêng của núi sông, có cả những giọt nước mắt nóng hổi khóc thương những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Đó không đơn thuần là lời tâm sự của một người đi trước, mà là lời hiệu triệu của lịch sử, nhắc nhở thế hệ hậu sinh về cái giá của độc lập, tự do – một cái giá không thể đo đếm bằng vật chất, mà phải đổi bằng xương máu, bằng cả thanh xuân tươi đẹp nhất của hàng vạn con người anh dũng.  Bản hùng ca thời hoa lửa trong tác phẩm “câu chuyện thời hoa lửa – Ánh đèn bên chiến trận” ấy sẽ còn ngân vang mãi theo năm tháng. Những người lính cụ Hồ như ông Phạm Trí Liên có thể đã già đi theo quy luật của tạo hóa, mái đầu đã bạc trắng và những vết thương xưa lại đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, nhưng ngọn lửa lý tưởng mà họ thắp lên từ thuở đôi mươi thì vẫn vẹn nguyên giá trị soi đường. Thế hệ trẻ hôm nay, những người may mắn được sinh ra và lớn lên dưới “khung trời yên ả” tràn ngập “sắc cờ hoa”, nguyện sẽ tiếp bước cha anh, nâng niu, trân trọng và bảo vệ vẹn toàn nền hòa bình này. Lời nhắc nhở của ông sẽ là hành trang, là kim chỉ nam để tuổi trẻ hôm nay biến lòng biết ơn thành hành động, giữ cho ngọn lửa yêu nước ấy cháy mãi, soi sáng con đường xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp, văn minh và sánh vai với các cường quốc năm châu. 

image.pngimage.png

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN | Câu chuyện thời hoa lửa