Bài viết

Câu Chuyện Thời Hoa Lửa – Anh Hùng Bế Văn Đàn

Bế Văn Đàn sinh năm 1931, dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Triệu Ẩu), huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm; lớn lên anh tham gia hoạt động du kích. Tháng l/1948, xung phong vào bộ đội và tham gia nhiều chiến dịch, anh luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực vượt qua mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết chấp hành mọi chỉ thị mệnh lệnh nghiêm túc, chính xác kịp thời, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được

Gia Lai26/04/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Quy Nhơn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Quy Nhơn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bế Văn Đàn sinh năm 1931, dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Triệu

Ẩu), huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Xuất thân trong một gia đình nghèo có

truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm; lớn lên anh tham gia hoạt

động du kích. Tháng l/1948, xung phong vào bộ đội và tham gia nhiều chiến dịch,

anh luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực vượt qua mọi khó khăn ác liệt,

kiên quyết chấp hành mọi chỉ thị mệnh lệnh nghiêm túc, chính xác kịp thời, hoàn

thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh đang ở giai đoạn quyết liệt, Đảng Cộng sản Đông

Dương quyết định mở chiến dịch Đông Xuân năm 1953–1954, đơn vị hành quân đi chiến dịch,

Bế Văn Đàn làm liên lạc tiểu đoàn. Một đại đội của tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây

giữ Pháp ở Mường Pồn. Lúc đó, khi thấy lực lượng Việt Minh ít, Pháp tập trung hai đại đội có

phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai lần chúng đều bị quân Việt Minh đánh bật.

Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng và quyết liệt. Quân Pháp liều chết xông lên, quân Việt Minh

kiên quyết ngăn chặn, chốt giữ.Lúc đó có lệnh cho đại đội quyết tâm giữ ở Mường Pồn bằng bất

cứ giá nào, để các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện các chủ trương của chiến dịch.

Mặc dù Bế Văn Đàn vừa đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo, ông đã xung phong

lên đường làm nhiệm vụ. Bế Văn Đàn vượt qua lưới đạn dày đặc của quân Pháp, xuống truyền

đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chính xác. Trong khi đó, trận chiến đấu diễn ra ngày càng ác

liệt hơn, Bế Văn Đàn được lệnh ở lại đại đội chiến đấu.Quân Pháp phản kích lần thứ ba, mở

đường tiến, đại đội Việt Minh bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn

cũng bị thương, nhưng ông vẫn tiếp tục chiến đấu Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn

được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt

súng. Trong tình thế hết sức khẩn trương, Bế Văn Đàn không ngần ngại chạy lại cầm 2 chân

khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đồng đội bắn. Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn đã nói: "Kẻ

thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi!" Trong lúc lấy thân mình làm giá

súng, Bế Văn Đàn bị hai vết thương nữa và hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai

mìnhHình ảnh "Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng" trở thành một trong những tấm gương

tiêu biểu trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ Chiến tranh Đông Dương. Bế Văn Đàn lúc

hy sinh là tiểu đội phó, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông đã để lại tấm gương chiến đấu

dũng cảm, chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Do đó, trong đại hội mừng công của đơn vị, Bế Văn Đàn được truy tặng Huân chương chiến

công hạng nhất và được bình bầu là chiến sĩ thi đua số một của tiểu đoàn. Với những thành tích

đặc biệt xuất sắc, ngày 31 tháng 8 năm 1955, Bế Văn Đàn được Quốc hội nước Việt Nam truy

tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương quân công hạng nhì.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn