CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA ANH HÙNG LIỆT SĨ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM NGUYỄN VĂN THẠC
Họ và tên: Cù Hoàng Hải
Lớp: 10A6
Trường: THPT B Bình Lục
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA ANH HÙNG LIỆT SĨ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM NGUYỄN VĂN THẠC
“30/4/1975 Thạc sẽ trả lời cho P. câu: Hạnh phúc là gì?...”
Nguyễn Văn Thạc sinh năm 1952 tại làng Bưởi, Hà Nội trong một gia đình thợ thủ công. Cha mẹ cậu có xưởng dệt nhỏ, nhưng khi Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, đã phải bán rẻ để sơ tán về quê tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Không có việc làm, nhà lại đông con (Thạc là con thứ 10 trong 14 anh em), tài sản gia đình nhanh chóng khánh kiệt. Bà mẹ Thạc phải đi cắt cỏ bán lấy tiền ăn.
Nhà nghèo, nên Thạc vừa đi học, vừa phải đi làm thêm giúp đỡ bố mẹ, nhưng học rất giỏi. Suốt 10 năm học phổ thông, cậu đều đạt loại học sinh A1 (giỏi toàn diện). Năm lớp 7, Thạc đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) học sinh giỏi văn thành phố Hà Nội. Năm lớp 10, (niên học 1969 - 1970), Nguyễn Văn Thạc đã đoạt giải Nhất cuộc thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc. Với thành tích học tập kể trên, Thạc đã được Ban Tuyển sinh Hà Nội xếp vào diện đi đào tạo tại Liên Xô. Nhưng theo chủ trương chung, phần lớn những nam học sinh xuất sắc năm đó đều phải ở lại để tham gia quân đội.
Trong khi chờ gọi nhập ngũ, Thạc đã xin thi và đỗ vào Khoa Toán – Cơ của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Vừa học năm thứ nhất, anh vừa tự học thêm để hoàn thành chương trình năm thứ 2 và được nhà trường đồng ý cho lên học thẳng năm thứ ba... Nhưng đó cũng là thời gian cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào giai đoạn mới. Chiến trường miền Nam ngày càng gay go và ác liệt. Hàng ngàn sinh viên các trường đại học phải tạm ngừng học tập, để bổ sung lực lượng chiến đấu cho quân đội. Nguyễn Văn Thạc đã nhập ngũ ngày 6/9/1971.
“Ra đi mang nặng lời thề, chưa thắng giặc Mỹ chưa về Bách Khoa”
Trong số 300 sinh viên của Trường Tổng hợp Hà Nội cùng nhập ngũ một đợt với Thạc có Hoàng Nhuận Cầm (là nhà thơ hiện nay). Sau này, trong nhật ký của mình, nhiều đoạn Nguyễn Văn Thạc có ghi chép và nhắc đến tác giả của Xúc xắc mùa thu, với một tình cảm đặc biệt.
Là người giỏi văn, nên Thạc viết thư rất hay. Anh cũng là người viết rất nhiều thư. Chỉ riêng một người bạn gái thân thiết, trong 4 tháng anh viết cho cô tới... 500 trang thư, có thư dày tới... 54 trang! Đọc thư của Nguyễn Văn Thạc, ta không chỉ cảm nhận và khám phá được nhiều điều thú vị về cuộc sống và xã hội miền Bắc nước ta những năm 1966 – 1972; mà còn hiểu được đời sống, tâm tư, tình cảm của thế hệ thanh niên - chiến sĩ thời đó. Hình như anh viết thư không chỉ là thông tin tình cảm riêng cho bố mẹ, cho anh trai, hay cho bạn bè... mà còn ấp ủ những tư tưởng và mơ ước lớn hơn nhiều. “Em muốn những trang thư là những dòng suy nghĩ về đời, về người, về cuộc sống, về những chân lý mà bất kỳ ai sống có trách nhiệm cũng phải suy nghĩ đến...” – Trong một lá thư gửi anh trai của mình, Thạc đã viết như thế.
Đặc biệt, trong một số lá thư gửi người bạn gái thân thiết, Nguyễn Văn Thạc không chỉ một lần nhắc đến ngày 30/4/1975. Anh có khả năng dự báo kỳ lạ: “Bất kỳ một sự vinh quang nào cũng cần phải trả bằng một giá. Và khó khăn gian khổ càng nhiều và thử thách càng nhiều, sự vinh quang đó càng trở nên rực rỡ. Chúng ta đừng đi tìm những chân lý sâu xa đơn thuần qua những áng văn và những bài thơ, bài toán. 30/4/1975, T sẽ trả lời cho P câu: Hạnh phúc là gì?”... Thậm chí, trong một lá thư đề ngày 4/9/1971, Thạc còn “đính chính”: “Như Anh nhớ nhầm rồi Lan (tức Thạc – mật danh quy ước giữa hai người - ĐVH) bảo ngày 30/4/1975 mới trả lời câu “Hạnh phúc là gì” cơ mà, chứ có phải ngày 11/4/1975 đâu?”.
Bây giờ, thì hầu hết người dân Việt Nam và nhiều người khác trên thế giới mỗi khi nhắc đến ngày 30/4/1975 đều hiểu đó là ngày gì! Nhưng xin quý độc giả nhớ cho: Nguyễn Văn Thạc viết lá thư này từ tháng 9/1971, nghĩa là gần 4 năm sau mới tới ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975... Nhờ đâu mà anh có được lời hẹn với người bạn gái của mình chính xác như vậy? Đó là sự tiên cảm kỳ diệu chăng?
Trong một trận đánh ác liệt bên Thành cổ Quảng Trị, chiến sĩ thông tin Nguyễn Văn Thạc đã bị trọng thương, mảnh pháo đã cắt ngang đùi trái. Sau này, một đồng đội của anh kể lại: Mặc dù đã được garô và băng bó, nhưng mất máu quá nhiều, nên sắc mặt Thạc tái dần đi. Tuy nhiên, anh lại rất tỉnh. Đồng đội vừa cấp cứu, vừa động viên Thạc, nhưng anh nói: “Mình tỉnh thế này tức là sắp chết rồi... Chỉ tiếc là không còn chiến đấu được nữa... bao dự định còn dang dở”. Sau đó, Thạc tắt thở trong vòng tay của đồng đội.
Tháng 5/1973, khi gia đình chưa nhận được giấy báo tử, thì anh Đặng Trực Ngôn - một đồng đội thân thiết của Thạc báo tin anh hy sinh. Thư viết rất rõ: “Mộ của Thạc ở thôn Đầu Kênh, xã Triệu Long, quận Triệu Phong, Quảng Trị (tiếp giáp thôn Hà My, Phương Ngạn, gần lộ 4). Mộ được đặt ở thửa ruộng khá cao, cùng hai ngôi mộ khác, Thạc đặt đầu tiên”.
Cuối năm 1976, ông Nguyễn Văn Thục, (anh ruột của liệt sĩ Thạc) được Công ty 16 giao nhiệm vụ chỉ đạo vận chuyển vật tư thiết bị thi công từ Quảng Trị ra Hà Nội. Nhân cơ hội này, ông báo cáo giám đốc, xin kết hợp tìm mộ liệt sĩ. Và ông Thục đã thực hiện được nguyện ước là đưa hài cốt người em trai về quê vào giáp tết Đinh Tỵ (1977)...
Bây giờ, ngôi mộ của anh lính binh nhì Nguyễn Văn Thạc - người giỏi văn nhất miền Bắc một thời, người đã có dự báo chính xác về ngày 30/4/1975 trước gần 4 năm, tác giả của tập nhật ký mang tên “Mãi mãi tuổi hai mươi” (NXB Thanh Niên sắp ấn hành) đang nằm trong nghĩa trang của huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Câu chuyện về Nguyễn Văn Thạc không chỉ đơn thuần là câu chuyện của một người lính trẻ trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước, mà còn là bản anh hùng ca về lý tưởng sống cao đẹp của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam. Qua từng trang nhật ký chân thực, giản dị mà sâu sắc, ta cảm nhận được một tâm hồn nhạy cảm, giàu ước mơ nhưng cũng vô cùng kiên cường và sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Anh đã sống với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, mang trong mình khát vọng cống hiến và niềm tin mãnh liệt vào tương lai của đất nước. Dù cuộc đời dừng lại ở tuổi 20, nhưng những gì anh để lại không hề ngắn ngủi, mà ngược lại, trở thành nguồn động lực, nguồn cảm hứng lớn lao cho bao thế hệ sau tiếp tục học tập, rèn luyện và sống có ý nghĩa hơn. Câu chuyện của Nguyễn Văn Thạc vì thế sẽ còn mãi, như một lời nhắc nhở sâu sắc về trách nhiệm, lý tưởng và giá trị của một tuổi trẻ sống trọn vẹn vì quê hương, đất nước.


