Câu chuyện thời hoa lửa: Anh hùng LLVTND Phùng Thị Tám
Câu chuyện thời hoa lửa: Anh hùng LLVTND Phùng Thị Tám
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giữa muôn vàn hiểm nguy nơi vùng sông nước Nam Bộ, nữ chiến sĩ giao liên Phùng Thị Tám đã để lại dấu ấn sâu đậm bằng lòng trung kiên, dũng cảm và sự hy sinh thầm lặng cho cách mạng. Sinh năm 1918 tại xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, đồng chí tham gia cách mạng từ năm 1958, gắn bó với công tác giao liên vận tải thuyền thuộc Phòng Hậu cần Tỉnh đội Vĩnh Long trong suốt những năm chiến tranh ác liệt.
Từ năm 1958 đến 1968, hoạt động trong lòng địch với hệ thống kìm kẹp, khủng bố dày đặc của chính quyền tay sai Mỹ, Phùng Thị Tám luôn nêu cao bản lĩnh kiên cường, mưu trí và linh hoạt. Bằng sự gan dạ và tinh thần trách nhiệm cao, đồng chí đã bí mật chuyển hàng trăm thư từ, tài liệu quan trọng, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công tác chỉ đạo chiến trường, góp phần giữ vững mạch liên lạc của cách mạng trong hoàn cảnh vô cùng nguy hiểm.
Năm 1969, trước yêu cầu cấp bách về vũ khí cho chiến trường Vĩnh Trà, đồng chí cùng chồng sử dụng thuyền hai đáy vận chuyển vũ khí từ biên giới Campuchia về nội địa. Những chuyến đi giữa vòng vây kiểm soát gắt gao của địch đòi hỏi sự gan dạ, sáng tạo và bản lĩnh phi thường. Chính phương thức vận tải công khai, linh hoạt trước mắt địch do đồng chí tham gia thực hiện đã trở thành cách làm hiệu quả, được Quân khu phát triển thành lực lượng vận tải lớn phục vụ chiến trường. Vì vậy, đồng chí được xem như một trong những người “mở đường” cho tuyến vận tải đặc biệt trên sông nước miền Tây.
Tháng 10 năm 1969, đồng chí bị địch bắt tại Cần Thơ cùng chồng. Dù bị tra tấn dã man, thậm chí kẻ thù bắn chết người chồng ngay trước mặt để uy hiếp tinh thần, Phùng Thị Tám vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, tuyệt đối không khai báo, kiên quyết bảo vệ bí mật tuyến vận tải vũ khí của Quân khu. Sau khi thoát khỏi nhà tù địch năm 1973, đồng chí được ra miền Bắc an dưỡng, nhưng đến tháng 3 năm 1974 lại tình nguyện trở lại chiến trường, tiếp tục phục vụ chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Sau năm 1979, nghỉ hưu tại quê nhà, đồng chí vẫn tích cực tham gia công tác địa phương, sống giản dị, mẫu mực, được đồng đội tin yêu và nhân dân quý mến. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ngày 20/12/1994, đồng chí được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, xứng đáng là biểu tượng tiêu biểu của lòng trung kiên, bất khuất của người phụ nữ Việt Nam trong thời hoa lửa.



