Anh hùng Lực lượng vũ trang

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TRỖI – TIẾNG HÔ GIỮA PHÁP TRƯỜNG

Giữa những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, có một người con của miền Trung nắng gió đã bước ra từ cuộc đời bình dị để trở thành biểu tượng bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Anh là Nguyễn Văn Trỗi, người thợ điện mang trái tim của một chiến sĩ, người đã lấy chính sinh mệnh mình làm lời thề son sắt với Tổ quốc.

Hải Phòng13/01/2026Hữu Bình - Hà Nana (Đoàn TNCS HCM xã Nam An Phụ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TRỖI – TIẾNG HÔ GIỮA PHÁP TRƯỜNG

Nguyễn Văn Trỗi sinh ra tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nghèo. Là con thứ ba trong nhà, anh còn được gọi thân thương là Tư Trỗi. Tuổi thơ anh gắn liền với ruộng đồng, với những ngày lam lũ mưu sinh, sớm hun đúc trong anh đức tính chịu thương, chịu khó và tình yêu quê hương sâu nặng. Sau Hiệp định Genève, gia đình anh vào Sài Gòn sinh sống. Lớn lên giữa đô thị phồn hoa nhưng đầy bất công, Nguyễn Văn Trỗi chọn cho mình một nghề lao động chân chính – thợ điện tại nhà máy điện Chợ Quán. Chính trong môi trường ấy, anh sớm giác ngộ cách mạng, tham gia Biệt động thành, thuộc Đại đội quyết tử cánh Tây Nam Sài Gòn. Từ một người thợ bình thường, anh trở thành chiến sĩ biệt động với ý chí sắt đá và lòng căm thù giặc sâu sắc. Năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi được tập huấn kỹ thuật đánh biệt động nội thành tại căn cứ Rừng Thơm, Đức Hòa (Long An). Những bài học thầm lặng, những ngày rèn luyện gian khổ đã chuẩn bị cho anh một nhiệm vụ đặc biệt – nhiệm vụ có thể phải đánh đổi bằng cả cuộc đời. Ngày 2 tháng 5 năm 1964, anh được giao nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý, nhằm tiêu diệt phái đoàn quân sự – chính trị cao cấp của Chính phủ Hoa Kỳ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu. Ban đầu, nhiệm vụ này được giao cho một đồng đội khác. Nhưng khi biết đồng chí ấy đã có gia đình và con nhỏ, Nguyễn Văn Trỗi đã xung phong nhận nhiệm vụ thay, dù chính anh mới cưới vợ được 10 ngày. Sự lựa chọn ấy không phải là bồng bột, mà là sự hy sinh có ý thức của một người đã đặt Tổ quốc lên trên hạnh phúc riêng. Không may, công việc bị bại lộ. Lúc 22 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi bị bắt. Trước tra tấn, trước tòa án quân sự của chính quyền Sài Gòn, anh vẫn hiên ngang, bất khuất, không khai báo, không khuất phục.

Bản án tử hình được tuyên. Tin tức ấy đã làm rung động phong trào cách mạng trên toàn thế giới. Tại Venezuela, một nhóm du kích chống chế độ độc tài thân Mỹ đã bắt sống trung tá Mỹ Micheal Smolen, yêu cầu trao đổi tù binh để cứu Nguyễn Văn Trỗi. Trước áp lực quốc tế, chính quyền Sài Gòn buộc phải tạm dừng việc xử tử. Hai bên đồng ý trao đổi, nhưng khi Smolen được thả, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bội ước, lập tức đưa Nguyễn Văn Trỗi đi xử bắn bí mật. Sáng ngày 15 tháng 10 năm 1964, lúc 9 giờ 45 phút, tại sân sau nhà lao Khám Chí Hòa, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên quốc tế, Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang bước ra pháp trường. Giây phút sinh tử, anh không cúi đầu, không run sợ, mà dõng dạc hô vang: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!” Tiếng hô ấy đã vượt qua song sắt, vượt qua bạo lực, trở thành tiếng sét đánh vào lương tri của nhân loại, làm rúng động thế giới và thắp sáng niềm tin chiến thắng của nhân dân Việt Nam. Sau khi hy sinh, chính quyền Sài Gòn bí mật chôn cất anh tại nghĩa trang Văn Giáp, Giồng Ông Tố. Ba ngày sau, bằng tình phụ tử và nghĩa phu thê, cha và người vợ trẻ của anh đã tìm được mộ, đưa anh trở về trong vòng tay yêu thương của gia đình và đồng bào. Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi xem bức ảnh Nguyễn Văn Trỗi trước pháp trường, đã viết: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của Anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước – nhất là cho các cháu thanh niên học tập!” Nguyễn Văn Trỗi đã ngã xuống, nhưng tên anh sống mãi trong lịch sử dân tộc, trong từng con đường, từng công trình, từng trang sách và trong trái tim của các thế hệ thanh niên Việt Nam. Anh là biểu tượng của lòng yêu nước tuyệt đối, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng không khuất phục, một ngọn lửa bất diệt của thời hoa lửa Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn