CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Nguyễn Thị Thứ
Có những thân xác ngã xuống để hóa thân vào hình hài của đất nước, có những giọt máu rơi xuống để hòa vào dòng nước của non sông. Có những nỗi đau không nằm ở thể xác, nhưng đau thấu tâm can nơi tâm hồn. Có những con người không trực tiếp ra chiến trường, nhưng những gì họ làm, những gì họ chấp nhận đánh đổi, lại đủ để dựng xây cả một đất nước…
“Ngày ấy, họ reo hò vui sướng vì thắng lợi, nhưng cũng ngày hôm ấy, Mẹ vĩnh viễn mất đi chín người con.”
Hòa bình hôm nay được đánh đổi không chỉ bằng xương máu, mà còn bằng cả những giọt nước mắt tiếc thương của biết bao bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng liêng ấy, bóng hình gầy gò của Mẹ Thứ lại hiện lên như một tượng đài bất tử của lịch sử nước Việt. Mẹ Nguyễn Thị Thứ, sinh năm 1904 tại thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, thành phố Đà Nẵng (tỉnh Quảng Nam cũ), mẹ mất ngày 10.12.2010 tại thành phố Đà Nẵng, đại thọ 106 tuổi. Chín lần tiễn con ra trận, chín lần nhận giấy báo tử của chín người con, chín lần đầu đội khăn tang, chín lần đau đến chết đi sống lại, Mẹ vẫn ở đó, gầy gò nhưng phi thường, ngày ngày nuôi lớn những trái tim anh hùng đầy quả cảm.
Sinh ra và lớn lên nơi mảnh đất miền Trung nắng gió, Mẹ đã sớm thấm thía cái cuộc đời lam lũ đầy khổ cực. Mười tám tuổi, Mẹ nên duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu nhưng chất phác. Cuộc đời tuy đi kèm với cái nghèo khó dai dẳng nhưng niềm vui đan xen cũng phần nào tô hồng cuộc sống khốn khổ của một gia đình. Để rồi, khi chiến tranh nổ ra, khi Pháp kéo đến, mang theo khói lửa tàn khốc đến từng làng quê, ông Trị, chồng Mẹ, và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp mái tranh, mẹ chỉ nhẹ nhàng buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà mình”.
“Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ…Các anh không về,…mình mẹ lặng yên.”
- Lời bài hát “Đất nước” –
Hiếm có người mẹ nào mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh như Mẹ Thứ. Hơn 30 năm kháng chiến, Mẹ 12 lần khóc thầm trong lặng lẽ, 9 lần khi nhận giấy báo tử của chín người con trai, 3 lần khi nhận tin con rể cùng hai đứa cháu ngoại ngã xuống nơi chiến trường. Từng đứa con chào Mẹ ra đi, những chẳng mấy ai giữ trọn lời hứa trở về ngày hòa bình. Ngày 18.06.1948, anh Lê Tự Xuyến, người con thứ ba, một chiến sĩ giao liên đã anh dũng hy sinh ngay tại đầu làng. Bốn tháng sau, con trai Lê Tự Hàn Anh ra đi khi làm nhiệm vụ tải thương, chưa đầy 10 ngày sau, con trai Lê Tự Hàn Em cũng ngã xuống trong trận chống càn. Tháng tư năm 1954, đến lượt người con thứ sáu, con trai Lê Tự Lem cũng ra đi trong lúc chiến đấu ở huyện nhà khi vừa tròn 20 tuổi. Trong vòng 6 năm, mẹ vĩnh viễn chia tay 5 người con, đau thương dồn dập như những ngọn sóng dữ, cứ mãi chập chờn, sẵn sàng nuốt trọn lấy người mẹ Việt Nam đầy khổ đau ấy. Đến năm 1966, người con thứ bảy, Lê Tự Nự, bỏ mình ở trận khu 5. Năm 1972, hai con trai Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh lần lượt hy sinh. Mùa hè hoa lửa năm 1974, người con trai út Lê Tự Thịnh, Đại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên, cũng ra đi. Khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn đi đến hồi kết, Mẹ cũng từng phấn khởi trông ngày người con trai cả, anh Lê Tự Chuyển trở về. Nhưng nghiệt ngã thay, khoảng 9 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Chuyển đã ngã xuống ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.
Không chỉ cac con, con rể của mẹ, ông Ngô Tường cũng bị giặc Pháp tra tấn đến kiệt sức rồi qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại của mẹ, chị Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều cũng lần lượt ra đi trong những ngày mưa đạn những năm 1973 và 1974, khi mà tuổi đời đều còn rất trẻ. Ba mươi năm kháng chiến, 12 lần nghe tin báo tử, 12 lần đau đớn đến chết đi sống lại, 12 vết dao mà chiến tranh tàn nhẫn khắc vào trái tim, có mấy ai vững vàng được như Mẹ…Người ta nói nước mắt có thể giúp vơi đi nỗi đau, nhưng mẹ lại chẳng còn nước mắt để rơi nữa. Năm 80 tuổi, mẹ vĩnh viễn mất đi ánh sáng nơi đôi mắt. Có lẽ, mẹ đã khóc quá nhiều. Những giọt nước mắt tiếc thương những thanh niên trai tráng nơi chiến trường ấy giờ đây như những giọt acid bỏng rát, dần dần ăn mòn đi đôi mắt của Mẹ.
Những năm tháng thanh xuân của Mẹ là những lần liên tục chứng kiến chồng con ra vào chiến trường. Mẹ tuy không trực tiếp ra chiến trường, nhưng lòng Mẹ, trái tim bé nhỏ ấy của Mẹ vẫn luôn hướng về Tổ Quốc. Suốt 30 năm, Mẹ cần mẫn cùng các con đào hầm trong vườn để nuôi chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật ngay trong lòng địch. Vườn nhà Mẹ rộng, có 5 căn hầm, quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở, khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang miệng hầm. Mẹ luôn để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động. Biết bao đêm dài Mẹ thao thức canh chừng nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm bí mật trong khu vườn nhà. Biết bao đêm đen Mẹ cần mẫn nắm cơm, chuẩn bị từng gói muối vừng, chuẩn bị hành trang lên đường của biết bao người anh hùng không tên...
Có mấy ai được như Mẹ Thứ, mạnh mẽ được như vậy. Có mấy ai như Mẹ, phải khổ đau biết bao khi lần lượt nghe tin hy sinh của chồng con, của cả những đứa cháu ngoại. Có mấy ai hy sinh hơn Mẹ, một lòng vì đất nước, cống hiến hết mình vì hòa bình dân tộc. Có mấy ai thiêng liêng hơn mẹ, hơn cả một người mẹ Việt Nam anh hùng…
Năm 1994, gần 20 năm sau ngày hòa bình, Mẹ Thứ được trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng, chính thức trở thành tượng đài bất diệt trong lịch sử vệ quốc của dải đất chữ S thiêng liêng. Ngày 10.12.2010, Mẹ đoàn tụ với chồng con, với những người thân thương của Mẹ. Mẹ ra đi, nhưng tên tuổi của Mẹ sẽ sống mãi trong lòng dân tộc.
Mẹ Thứ là nguồn suối bao la vô tận, là linh hồn của đất nước. Mẹ sinh ra từ miền đất anh hùng, sinh ra những vị anh hùng, rồi lại hóa thân vào đất, hòa mình vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời, Mẹ ra đi, nhưng để lại tấm gương, để lại nguồn sức mạnh kiên cường cho cả thế hệ mai sau trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.


