Bài viết

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG – NGUYỄN THỊ THỨ

Thái Nguyên18/05/2026Chu Ngọc Huyền (Trường Ngoại ngữ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG – NGUYỄN THỊ THỨ

Trong những năm kháng chiến khốc liệt của dân tộc, có biết bao người đã âm thầm hy sinh, góp phần làm nên độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nền độc lập của dân tộc không chỉ trả bằng máu cho đến ngày chiến thắng, mà còn là những nỗi đau âm thầm cho đến tận ngày nay. Trong chiến tranh có nhiều hơn một nỗi đau, nhưng có một nỗi đau, đau đến tận xương tủy, đó là nỗi đau của những bà mẹ Việt Nam anh hùng. Một trong những tấm gương tiêu biểu chính là bà Nguyễn Thị Thứ – người mẹ đã đi vào lịch sử với sự cống hiến và hy sinh vô bờ bến.

Bà Nguyễn Thị Thứ (1904-2010) sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng) giàu truyền thống cách mạng. Cuộc đời bà gắn liền với những năm tháng chiến tranh ác liệt, nơi mà mất mát dường như là điều không thể tránh khỏi.

Bà có chồng, chín người con trai, một con rể và hai cháu ngoại là liệt sĩ, đây cũng chính là người mẹ có nhiều con hy sinh nhất trong cả hai cuộc kháng chiến. Trong những năm kháng chiến, bà Nguyễn Thị Thứ cùng con gái bám trụ với xóm làng, vừa sản xuất, vừa đào hầm, âm thầm nuôi giấu cán bộ, du kích đánh giặc giữ làng.

Khi viên đạn xuyên qua tim người lính, nó cũng xuyên qua tim của một người mẹ, nó không chỉ lấy đi sinh mạng của các anh, mà còn lấy đi sự bình yên của người mẹ trong suốt cuộc đời còn lại. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, bốn người con của bà đã ngã xuống khắp các chiến trường. Mỗi lần nghe tin một người con hy sinh là bà lại cắn răng khóc thầm, thẫn thờ trong im lặng, thế rồi bà vẫn gắng gượng đứng dậy, tiếp tục động viên và cho những người con khác lên đường.

Trong hoàn cảnh ấy, bà không chỉ là một người mẹ bình thường mà còn là hậu phương vững chắc. Bà tiễn con ra trận không phải bằng nước mắt yếu mềm, mà bằng niềm tự hào và ý chí sắt đá. Bà hiểu rằng, sự hy sinh của các con là vì độc lập của dân tộc, vì tương lai của đất nước. 21 năm chống Mỹ cứu nước, năm người con của bà cũng lần lượt ngã xuống. Điều đau lòng nhất có lẽ là người con trai cả của bà đã hy sinh vào ngày 30/4/1975, khi chỉ còn vài giờ nữa là đất nước thống nhất, chỉ còn vài giờ nữa là anh có thể về với mẹ.

Làm mẹ đã khó, nhưng làm mẹ trong thời chiến còn khó hơn. Là những đêm không ngủ vì tiếng bom rơi, là những lần tiễn con ra trận mà không biết ngày trở về. Tiễn con đi với đủ hình hài, ngày trở về con đã hóa bóng dáng đất nước. 30 năm kháng chiến trường kỳ, bao nhiêu đau thương mất mát, đã tới tấp dội lên gia đình bà. Chín người con ra đi không một người trở về. Chiến tranh đã qua đi, nhưng những mất mát thì vẫn còn ở lại.

Ngày 17/12/1994, bà Nguyễn Thị Thứ được nhà nước trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Vào năm 1998, có một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi bà: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận”?

Bà Thứ điềm tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”.

Để ghi nhớ công lao to lớn của các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Đảng và Nhà nước đã xây dựng tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam (cũ), lấy nguyên mẫu từ bà Nguyễn Thị Thứ. Tượng đài mô phỏng hình ảnh người mẹ đang dang rộng vòng tay ôm các con vào lòng. Đây là tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng lớn nhất cả nước.

Đằng sau danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng đều có những nỗi đau không thể nào quên được. Các Bà mẹ Việt Nam anh hùng tuy không trực tiếp ra chiến trường nhưng đã lặng lẽ hiến dâng điều quý giá nhất của đời mình cho Tổ quốc.

Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, nhưng những câu chuyện về các Bà mẹ Việt Nam anh hùng vẫn luôn được nhắc lại. Câu chuyện không chỉ là ký ức của một thời chiến tranh, mà còn là ngọn lửa tinh thần thắp sáng lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhắc nhở chúng ta rằng: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao xương máu và nước mắt của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn