Câu chuyện thời hoa lửa - Bà Nguyễn Thị Bình
Câu chuyện thời hoa lửa - Bà Nguyễn Thị Bình
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA: BÀ NGUYỄN THỊ BÌNH
1. Nguyễn Thị Bình – Bóng hồng “ Khiêu vũ giữa bầy sói” khiến thế giới sửng sốt
Theo nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, dân tộc ta qua mỗi cuộc đấu tranh bảo vệ
đất nước có rất nhiều anh hùng và bà Nguyễn Thị Bình xứng đáng là anh hùng trên mặt trận ngoại giao.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành được thắng lợi vang dội 50 năm trước nhờ những
bước ngoặt trên chiến trường và mặt trận ngoại giao. Hiệp định Paris ký kết ngày 27/1/1973 buộc Mỹ
phải đàm phán theo điều kiện của ta, chấp nhận rút quân về nước, mở đường cho sự sụp đổ của chính
quyền Sài Gòn.
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho biết, thời
gian đó, ông đảm nhận phụ trách Vụ Nam Á, Bộ Ngoại giao. Từ trong nước, ông luôn theo dõi sát sao
cuộc đàm phán lịch sử này.
Bóng hồng "khiêu vũ giữa bầy sói"
Ông Niên cho biết, đóng góp vào kỳ tích ngoại giao mang tên Hiệp định Paris là những tên tuổi
tầm cỡ như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Cơ Thạch..., ngoài ra, không thể không
nhắc đến nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình.
"Bà Bình đã đảm nhận một cách hoàn hảo vai trò Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Ở bà toát lên khí chất của một phụ nữ xinh đẹp, thông minh,
bản lĩnh.
Chính vì vậy, không chỉ được nhân dân Việt Nam tin yêu, mến mộ, bà còn khiến cộng đồng quốc
tế ấn tượng, đặc biệt sau khi tham gia cuộc đàm phán kéo dài nhất lịch sử ngoại giao thế giới", nguyên
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nói.
Những năm tháng đàm phán, bà Bình có mặt ở Paris (Pháp) và không ít quốc gia như Anh, Thụy
Điển, Italy, Cu Ba, Ấn Độ, Liên Xô, Trung Quốc... tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh
của nhân dân ta.
Nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi hình ảnh Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt không phải
được đại diện bằng một chiến binh đằng đằng sát khí mà bằng một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà
uyên bác, gần gũi mà sang trọng.
Theo ông Nguyễn Dy Niên, dân tộc ta qua mỗi cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước có rất nhiều anh
hùng và bà Bình xứng đáng là anh hùng trên mặt trận ngoại giao.
Ông Niên đặc biệt ấn tượng khi xem lại những thước phim truyền thông thế giới ghi lại về cuộc
họp báo năm 1971 diễn ra trong thời gian đàm phán Hiệp định Paris. Đây là sự kiện được truyền hình
trực tiếp ở hai đầu Paris và Washington, tập hợp 20 nhà báo, phần lớn ủng hộ Mỹ, một phần người Pháp
thì trung lập.
"Họ yêu cầu chỉ phỏng vấn bà Bình nhằm mục đích thăm dò xem người phụ nữ này có bản lĩnh
thực sự không, có làm việc độc lập được không hay chỉ là một người đến "vâng, dạ" theo sự chỉ đạo của
Hà Nội. Tuy nhiên, màn thể hiện của bà Bình thực sự khiến nhiều người "cứng họng".
Người ta ví von bà Bình khi ấy như "người phụ nữ khiêu vũ giữa bầy sói" bởi sự thông minh, khả
năng tranh luận bằng tiếng Pháp lưu loát.
Bên cạnh những tình huống cùng phái đoàn Việt Nam chuẩn bị trước, bà còn biến hóa linh hoạt,
đưa ra những luận điệu đanh thép vạch rõ sự phi lý của Mỹ và nêu cao tinh thần yêu chuộng hòa bình
của nhân dân Việt Nam", nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho hay.
Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên chia sẻ về Hiệp định Paris và những ấn tượng
của ông về vai trò của bà Nguyễn Thị Bình (Ảnh: Nguyễn Ngoan).
Về phần bà Nguyễn Thị Bình, khi được mời tham gia cuộc họp báo truyền hình trực tiếp, bà có
phần ngần ngại bởi chỉ có một mình giữa bao nhiêu nhà báo sừng sỏ không quen biết, lại phải tranh luận
bằng tiếng Pháp.
Tuy nhiên, các thành viên trong đoàn đã động viên, đây là cơ hội tốt để giới thiệu với thế giới lập
trường chính nghĩa của ta, vạch trần âm mưu, tội ác của Mỹ nên bà phải hết sức tận dụng.
Gần 2 tiếng đồng hồ căng thẳng dưới ánh đèn sáng chói của trường quay, một mình bà Bình bình
tĩnh đối đáp, đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị, chấm
dứt đau khổ của nhân dân và kiên quyết đến cùng vì tự do, độc lập và sự thống nhất thiêng liêng của đất
nước.
"Kết thúc họp báo, tôi thở phào vì đã hoàn thành một nhiệm vụ phức tạp. Đồng chí Xuân Thủy điện
thoại khen: "Cô rất dũng cảm". Nhiều bạn Pháp, nhất là các bạn nữ thì gọi điện hoan hô, coi đây là một
thành công quan trọng. Nhiều ngày sau, báo chí còn tiếp tục nói đến sự kiện này", bà Bình chia sẻ trong
hồi ký.
Theo ông Nguyễn Dy Niên, đấu tranh ngoại giao là cuộc chiến chứ không phải bàn tiệc. Mỗi câu,
mỗi chữ nói ra đều phải hết sức cẩn trọng vì chỉ cần lỡ lời có thể phải trả giá bằng xương máu ngoài mặt
trận.
"Bà Bình đã làm rất tốt. Nhiều người rất bất ngờ và tâm phục, khẩu phục sự can đảm thông minh
của bà Bình", ông Niên nói.
"Tôi là người yêu nước!"
Bà Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa, cháu gái cụ Phan Châu Trinh, cha là Trưởng
ban Công binh Nam Bộ. Tên khai sinh của bà Bình gắn với tỉnh Sa Đéc (cũ) nơi cha bà - một viên chức
ngành trắc địa từng công tác.
Quê gốc của bà ở Quảng Nam - một vùng chiến trường ác liệt nhất cả nước, vùng quê trung dũng
kiên cường, nhiều năm tháng đứng mũi chịu sào trong cuộc chiến tranh chống xâm lược.
Nhiều bạn bè nhận xét, bà Bình được thừa hưởng một số đặc tính của người dân đất Quảng. Con
người xứ Quảng cương trực, khí phách, không dễ bị khuất phục, có tật "hay cãi", người Quảng cũng
thường tham việc công, có trách nhiệm với đất nước, cộng đồng, sẵn sàng gánh vác và dấn thân. Người
xứ Quảng còn rất nghĩa tình, cởi mở, nhạy cảm với cái mới.
Từ nhỏ, bà Bình được cha rèn cho tinh thần ham học, yêu lao động, cách nhìn nhận mỗi người
qua thái độ lao động. Khi cha bà sang Campuchia công tác, cả gia đình cũng đi theo. Bà được học tại
trường trung học lớn nhất của Campuchia, ngôi trường có nhiều con cái công chức người Pháp hoặc có
quốc tịch Pháp.
Năm bà 16 tuổi, người mẹ không may qua đời vì đau yếu, bà cùng cha lo toan việc gia đình, thay
mẹ lo cho các em.
Ngày còn đi học, bà ước trở thành bác sĩ để chữa bệnh cho mẹ và những người nghèo nhưng khi
nghe những bản nhạc hùng tráng, bài hát kêu gọi thanh niên "đứng lên đáp lời núi sông" của Lưu Hữu
Phước bà lại thấy bừng bừng trong tim.
Chính vì vậy, ngay khi xuất hiện hoạt động của Hội Việt kiều yêu nước tại Phnom Penh, gia đình
bà Bình đã hăng hái tham gia. Sau cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương năm 1945, như nhiều người
Việt, bà Bình gác lại việc thi tú tài, cùng gia đình về nước trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh lớn của dân
tộc.
Nghe theo tiếng gọi của non sông, bà Bình tham gia nhiều hoạt động, thực hiện nhiều nhiệm vụ
quan trọng trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1951, người phụ nữ kiên trung bị địch bắt, chịu nhiều
màn tra tấn tàn bạo nhưng vẫn âm thầm tổ chức các hoạt động học tập văn hóa, chính trị trong tù.
Sau khi ra tù một thời gian, bà Bình được điều về Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung ương và rồi "bén
duyên" với ngoại giao từ năm 1961. Từ đây, bà đổi tên Châu Sa thành Nguyễn Thị Bình với hàm ý là
"hòa bình".
Năm 1968, bà Bình đại diện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tham gia đàm phán nhằm
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
"Tôi ra đi với bao nhiêu cảm xúc trong lòng, nhưng tâm niệm phải làm hết sức mình để hoàn
thành nhiệm vụ, xứng đáng với lòng tin cậy của lãnh đạo. Tài liệu tôi mang theo là Cương lĩnh của Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, một số tài liệu về các phương án đấu tranh và lời dặn quý báu của
Chủ tịch Hồ Chí Minh do các đồng chí ban Thống nhất truyền đạt lại: Trong đấu tranh phải luôn luôn
giữ vững lập trường nguyên tắc: "Dĩ bất biến ứng vạn biến".
Và tôi nghĩ hai đoàn đàm phán Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam) đã thực hiện đúng lời chỉ bảo đó", bà Bình viết trong hồi ký về ngày lên đường đến
thủ đô Paris hoa lệ.
Suốt gần 5 năm diễn ra cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử thế giới, báo giới phương Tây đã rất
ấn tượng với hình ảnh của "madam Bình" (tên mà các nhà báo phương Tây gọi bà khi đó) - người phụ
nữ thường xuất hiện trong trang phục áo dài lịch thiệp.
Bà tham gia các cuộc họp báo, có sự kiện lên đến 400 nhà báo, trả lời phỏng vấn, tham dự các hội
nghị quốc tế với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao, đi khắp các châu lục tuyên truyền, vận động, tranh thủ
sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Bà luôn nêu rõ lập trường chính nghĩa của Mặt trận và thiện chí muốn tìm một giải pháp hòa bình.
Trong số 4 đoàn đàm phán, chỉ riêng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam có thành viên
là nữ (ngoài bà Bình còn một số thành viên nữ khác). Bà Bình và cộng sự đã khéo léo, chuẩn bị thông
tin để đưa ra những đòn tấn công ngoại giao sắc bén, cùng các thành viên trong 2 đoàn Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thiết lập một thế trận "tuy hai mà một, tuy một
mà hai".
Nhiều người tiếp xúc với bà đều ấn tượng về một người phụ nữ tự tin, hòa nhã, mềm mỏng nhưng
cũng vô cùng kiên định, văn minh.
Đứng trước truyền thông quốc tế hay những nhà ngoại giao lão luyện, bà Bình thể hiện sự thông
minh khiến nhiều người bất ngờ. Nhiều nhà báo quốc tế khi ấy tò mò một cách có chủ ý về Bộ trưởng
Ngoại giao Nguyễn Thị Bình.
Có phóng viên soi mói: "Bà có phải là đảng viên cộng sản không?", bà chỉ mỉm cười: "Tôi là
người yêu nước, đảng tôi là đảng yêu nước, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do của đất nước".
Có nhà báo nhận xét: "Tên bà là hòa bình nhưng chỉ nói về chiến tranh?", bà chia sẻ: "Có thể nói
gì khác là lên án cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và nêu rõ ý nghĩa cuộc chiến đấu của nhân dân ta,
vì hòa bình và độc lập, tự do"; "Nhân dân ta không hề muốn chiến tranh, chính thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ đã buộc nhân dân phải đứng lên tự vệ".
Một lần, một nhà báo hỏi xoáy về sự hiện diện của quân đội miền Bắc tại miền Nam, bà đã trả lời:
"Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống
xâm lược".
Giây phút lịch sử đầy xúc động và lòng biết ơn
Theo nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, song song với tình hình chiến trường căng
thẳng, nhiều thời điểm, trên bàn hội nghị, cuộc đấu lý cũng hết sức gay gắt. Những tháng cuối năm 1971,
đầu năm 1972 là thời gian "chán ngán nhất" của bà và các thành viên 2 đoàn đàm phán. Hoạt động đấu
tranh ngoại giao vẫn diễn ra nhưng là "cuộc nói chuyện giữa những người điếc". Những lúc như vậy, bà
Bình càng thêm nhớ nhà.
Bà kể, bà đọc đi đọc lại mấy dòng chữ nguệch ngoạc của con gái "Chừng nào mẹ về với chúng
con". Dẫu vậy, bà nén nỗi nhớ thương chồng con, trong lòng luôn mãnh liệt niềm tin chiến thắng bởi tin
rằng "cái gì phải đến, tất sẽ đến".
Sau nhiều nỗ lực, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết. Nhớ về ngày lịch sử của dân tộc,
cũng là ngày không thể uên trong cả cuộc đời, bà Bình xúc động: "Tôi như thay mặt nhân dân và các
chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trên tiền tuyến và trong lao tù cắm ngọn
cờ chiến thắng chói lọi. Vinh dự đó đối với tôi thật quá to lớn.
Tôi không có đủ lời để nói lên được lòng biết ơn vô tận đối với đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam
chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh, dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác
Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tin cậy giao
cho tôi nhiệm vụ khó khăn nhưng rất vẻ vang này...".
Bà Bình được cử tham gia hoạt động ngoại giao cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam từ năm 1961 và nhiệm vụ ban đầu dự kiến chỉ khoảng 6 tháng.
Chia sẻ về bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên tâm sự, ông coi
bà Bình như một người chị đáng kính. Đời thường, bà Bình là người phụ nữ giản dị, khiêm nhường, hết
lòng vì gia đình. Năm nay, bà đã 98 tuổi và mới đón nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng.
"Dù ở cương vị nào, bà Bình cũng thể hiện được sự dũng cảm, trí tuệ và liêm chính. Bà là tấm
gương điển hình cho tinh thần yêu nước, kiên trì nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, tất cả vì Tổ quốc, vì nhân
dân.
Bà cũng là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các thế hệ phụ nữ Việt Nam trong mọi thời đại, thông
minh, uyển chuyển, bản lĩnh", nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhấn mạnh.
Nguồn: Theo Báo Dân Chí ( https://dantri.com.vn/doi-song/ba-nguyen-thi-binh-bong-hong-
khieu-vu-giua-bay-soi-khien-the-gioi-sung-sot-20250420174847174.htm)
1. Bà Nguyễn Thị Bình - Biểu tượng của hòa bình, giáo dục và lòng nhân ái
Từ bàn đàm phán Paris 1973 đến những cải cách giáo dục sau ngày đất nước thống nhất, từ
ngoại giao tới thiện nguyện, cuộc đời Bà Nguyễn Thị Bình là tấm gương về trí tuệ, bản lĩnh và lòng
nhân ái, một di sản để thế hệ trẻ Việt Nam, noi theo.
Người phụ nữ của mùa xuân Paris
Mùa đông Paris năm 1973 có một hình ảnh khiến báo chí quốc tế không thể quên: một người
phụ nữ Việt Nam mặc áo dài tím, tóc búi gọn, ánh mắt kiên nghị nhưng bình thản, đó là bà Nguyễn Thị
Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại
Hội nghị Paris.
Chiến tranh Việt Nam kéo dài đã gần 20 năm, những vết thương lòng trên đất nước bị chia cắt
đau đớn, máu xương hòa lẫn với khói lửa. Trong căn phòng đàm phán, mọi cử chỉ, lời nói đều mang
trọng trách của cả dân tộc, và bà Bình, người phụ nữ duy nhất giữ vị trí Bộ trưởng Ngoại giao, đã trở
thành biểu tượng cho khát vọng hòa bình.
“Bà không chỉ đại diện cho một chính phủ, mà còn là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam kiên cường
trong chiến tranh. Sự bình tĩnh của bà trên bàn đàm phán là thứ vũ khí sắc bén nhất", Đại sứ Phạm Sanh
Châu từng nói.
Ngày 27/1/1973, khi Hiệp định Paris được ký kết, hình ảnh bà Nguyễn Thị Bình ký tên trên văn
bản lịch sử đã được hàng loạt báo chí thế giới đăng tải, minh chứng cho sự cương quyết và tinh thần
ngoại giao đỉnh cao của người phụ nữ Việt Nam.
Từ Bộ Trưởng Ngoại giao đến Bộ Trưởng Giáo dục
Bà Nguyễn Thị Bình sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927. Quê quán bà ở xã Điện Quang, huyện Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Bà là một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam, lớn lên
trong một gia đình truyền thống yêu nước, bà sớm được thấm nhuần tinh thần đấu tranh vì độc lập, tự do
của dân tộc. Từ khi còn trẻ, bà đã tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng, góp phần vào cuộc
đấu tranh giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của chế độ thực dân và chính quyền tay sai.
Tuổi trẻ của bà gắn liền với những năm tháng hoạt động không mệt mỏi, đối mặt với hiểm nguy
và thử thách. Bà từng bị bắt giữ và trải qua những năm tháng tù đày trong nhà tù Chí Hòa, nơi được biết
đến với sự khắc nghiệt và tàn bạo bậc nhất trong lịch sử nhà tù ở Việt Nam.
Dù chịu đựng những điều kiện giam giữ vô cùng gian khổ, bà không một lần khuất phục hay từ
bỏ lý tưởng cách mạng. Ngược lại, những năm tháng trong tù đã rèn luyện cho bà bản lĩnh thép, sự kiên
cường và một quyết tâm sắt đá để phục vụ đất nước. Chính trong hoàn cảnh đó, bà tôi luyện cho mình
một tinh thần bất khuất, lòng tin mãnh liệt vào con đường cách mạng và khát vọng hòa bình cho dân tộc.
Từ 01/1969-6/1976 Bà đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam; đồng thời là Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Pari (1968-1973).
Trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam
Việt Nam, bà đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và củng cố đường lối đối ngoại
của Chính phủ cách mạng. Với vốn hiểu biết sâu rộng về chính trị và ngoại giao cùng tinh thần tận tụy
vì đất nước, bà đã tích cực thúc đẩy quan hệ với các lực lượng quốc tế, vận động sự ủng hộ từ các nước
bạn, góp phần nâng cao vị thế của Chính phủ Cách mạng Lâm thời trên trường quốc tế.
Bà không chỉ là người phát ngôn đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân miền Nam mà
còn là một chiến sĩ ngoại giao tài năng, khẳng định vai trò chủ động và sáng tạo trong đấu tranh ngoại
giao. Nhờ sự đóng góp to lớn của bà, tiếng nói của Chính phủ Cách mạng Lâm thời được lắng nghe rộng
rãi, đồng thời góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ nền độc lập, tự do cho miền Nam và cả nước.
Qua đó, bà đã ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam, trở thành tấm gương
sáng về lòng kiên trì và sự tận tụy đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Khi nhắc đến “Madam Bình”, như báo chí phương Tây từng gọi, nhiều học giả, chính khách
phương Tây đều dành cho bà sự tôn trọng sâu sắc.
Bà Madeleine Albright, cựu Ngoại trưởng Mỹ, trong hồi ký của mình, từng viết: “Bà Bình là một
trong những nhà đàm phán kiên định và duyên dáng nhất tôi từng gặp. Sự hiện diện của bà là minh chứng
rằng phụ nữ có thể định hình hòa bình". "Trong khi đó ông William Duiker, nhà sử học Mỹ, nhận xét:
“Phong thái của bà, nhẹ nhàng nhưng kiên định, đã giúp Việt Nam giữ thế thượng phong ngoại giao".
Còn nhà báo Pháp Jean-Claude Pomonti thì viết: “Bà là hiện thân của trí tuệ Á Đông, với tư duy và tầm
nhìn quốc tế rõ nét".
Sau ngày đất nước thống nhất, bà Bình nhận trọng trách Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Đó là thời kỳ
gian khó khi hệ thống giáo dục bị tàn phá, trường lớp thiếu thốn, giáo viên lương thấp, nhiều vùng sâu
vùng xa học sinh chưa có cơ hội đến trường.
Bà không chỉ là người hoạch định chính sách mà còn dành nhiều thời gian đi thực tế vùng khó
khăn, từ những bản làng hẻo lánh đến các trường học vùng sâu vùng xa. Bà chứng kiến tận mắt những
lớp học tạm bợ, trẻ em nhem nhuốc nhưng khát khao học chữ vẫn cháy bỏng.
Chính sách của bà tập trung vào: phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ, cải tiến chương trình học
kết hợp lao động thực tế và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đặc biệt khuyến khích vai trò của
phụ nữ trong ngành giáo dục.
“Bà không chỉ ký các văn bản chính sách. Bà đi tận nơi, lắng nghe tận tai. Ở những bản làng xa
nhất, người ta vẫn nhớ hình ảnh bà Bình đến thăm lớp học", PGS.TS Nguyễn Kim Hồng, ĐH Sư phạm
TP.HCM từng nhận xét.
Bà quan niệm: “Giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức, mà là mở ra cánh cửa cho con người
tự do, tự chủ".
Trọn đời cho hòa bình và thiện nguyện
Dù đã rời ghế Bộ trưởng, bà Nguyễn Thị Bình vẫn tiếp tục các hoạt động xã hội và có những đóng
góp lớn lao. Năm 2003, bà sáng lập Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam, một tổ chức thúc đẩy các hoạt
động vì hòa bình, phát triển và hỗ trợ nạn nhân chiến tranh.
Bà dành nhiều tâm huyết cho công tác giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, cũng như các chương
trình học bổng dành cho trẻ em khó khăn trên cả nước. Một tình nguyện viên nhớ lại: “Bà không muốn
chúng tôi gọi là “Phó Chủ tịch nước”. Bà bảo “cứ gọi là cô Bình cho gần gũi”. Có lần trời mưa to, bà tự
lái xe đến trung tâm bảo trợ trẻ em, mang theo sách và bánh kẹo, ngồi bệt xuống sàn chơi với các em".
Hành trình cuộc đời bà Nguyễn Thị Bình là bài học về trí tuệ, bản lĩnh và lòng nhân ái. Bà từng
gửi gắm với thế hệ trẻ: “Không ai trao cho mình vị trí. Mình phải tự bước lên, bằng năng lực và sự chuẩn
bị của chính mình".
Hình ảnh bà, người phụ nữ từ bàn đàm phán quốc tế đến những lớp học vùng sâu vùng xa, luôn
là nguồn cảm hứng để phụ nữ trẻ Việt Nam dám mơ, dám làm và dám vượt qua thử thách.
Quá trình công tác
- Từ 8/1945-01/1946: Tham gia vào phong trào quần chúng giành chính quyền tại Sài Gòn. Bắt
đầu kháng chiến, tham gia tiếp tế và chuyển vũ khí ra chiến khu cho Chi đội I Miền Đông
- Từ 02/1946-6/1947: Uỷ viên Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc, Quận 3, Sài Gòn - Chợ Lớn.
- Từ 7/1947-6/1951: Thư ký, rồi Đoàn trưởng phụ nữ cứu quốc thành Sài Gòn, Bí thư Đảng đoàn
Phụ nữ Sài Gòn - Chợ Lớn. Tham gia mặt trận Liên - Việt, vận động thanh niên, trí thức.
- Từ 7/1951-12/1954: Bị địch bắt giam ở khám Chí Hòa, là Chi ủy viên Chi bộ nhà tù Chí Hòa; ra
tù tiếp tục hoạt động trong phong trào hòa bình đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954.
- Từ 01/1955-1957: Cán bộ của Hội liên hiệp Phụ nữ Trung ương.
- Từ 1957-1959: Học lý luận chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc
- Từ 1959-1962: Trưởng ban Phúc lợi, Đảng đoàn phụ nữ Trung ương
- Từ 7/1962-12/1968: Ủy viên Trung ương phụ trách công tác đối ngoại Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam.
- Từ 01/1969-6/1976: Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam
Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Pari (1968-1973).
- Từ 7/1976-6/1987: Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Ủy viên TW Đảng khóa 5.
- Từ 7/1987-8/1992: Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Đối
ngoại của Quốc hội.
- Từ 9/1992-8/2002: Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.
- Tháng 9/2002: Nghỉ hưu.
- Từ 2003 đến nay: Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam.
(Nguồn: Theo tạp chí điện tử VIET TIME
https://viettimes.vn/ba-nguyen-thi-binh-bieu-tuong-cua-hoa-binh-giao-duc-va-long-nhan-
ai-post188436.html )



