CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA -Bác sĩ, Anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm.
Đặng Thùy Trâm
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Có bao giờ bạn tự hỏi, tại sao trong lòng chúng ta lại tồn tại một nỗi sợ mơ hồ khi xem những bộ phim về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước? Đó không chỉ là nỗi sợ trước cái chết, mà là sự bàng hoàng trước sự khốc liệt vượt quá sức tưởng tượng của con người. Bom đạn đã rơi khắp nơi trên dải đất hình chữ S. Hàng triệu thanh niên cùng lứa tuổi của mình đã ngã xuống vì hy vọng vào ngày mai độc lập. 50 năm đã trôi qua kể từ ngày thống nhất, đất nước đã khoác lên mình bộ mặt khác xưa. Song ký ức chiến tranh vẫn còn nguyên vẹn trong tâm khảm nhiều thế hệ.
Đứng trước những trang sử ấy, tôi luôn tự vấn: Giữa năm tháng chiến tranh, điều gì khiến những con người ấy giữ được lòng nhân ái cùng với ước mơ về ngày mai khi tiếng bom đạn đã lùi xa? Làm thế nào thế hệ ngày nay vẫn đủ can đảm sống một cuộc đời có lý tưởng và ý nghĩa? Câu trả lời có lẽ nằm trong những dòng nhật ký đầy lửa và hoa của một người con gái Hà Nội: Bác sĩ, Anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm.
Chị sinh ra (26/11/1942) trong một gia đình trí thức tại Huế và lớn lên ở Hà Nội. Trong huyết quản của chị là sự hòa quyện giữa nét trầm mặc của cố đô và vẻ thanh lịch của đất kinh kỳ. Có cha làm bác sĩ (Bác sĩ Đặng Ngọc Khuê), mẹ là giảng viên đại học Dược (Dược sĩ Doãn Ngọc Trâm), gia đình chị có 4 chị em gái rất thân thiết và yêu thương nhau. Những dòng nhật ký lặng lẽ hé mở thế giới nội tâm của một cô học trò yêu những buổi chiều nghe nhạc quốc tế trên đài. Lơ đãng ngồi trong giảng đường trường Chu Văn An nhìn ra hồ Tây thả mình theo dòng suy nghĩ. Chị say mê đọc sách, thuộc nhiều thơ, ngưỡng mộ những nhân vật luôn sống vì lý tưởng trong các cuốn tiểu thuyết.
Cuộc đời tưởng chừng bình yên, chiến tranh đã khiến chị và cả những người trong thế hệ ấy rẽ sang một con đường khác. Tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, chị Đặng Thùy Trâm xung phong vào chiến trường miền Nam, trở thành Bác sĩ quân y tại bệnh xá huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Đối với cô gái chỉ tuổi đôi mươi, ra trận nghĩa là bao nỗi niềm phải gác lại. Chị nhớ về Hà Nội, nhớ từng hàng cây bên đường, lá xanh bóng sau những cơn mưa. Ai cũng muốn sống một cuộc đời bình yên với hạnh phúc riêng tư. Không ai muốn chết vào cái tuổi đang đẹp nhất, nhưng ai cũng mong việc nhẹ nhàng thì gian khổ sẽ dành phần ai? Tuổi 20 của thời chiến ra đi để đem lại bình yên cho những người họ thương yêu. Chị đã viết: "Tuổi xuân của mình đã qua trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuổi trẻ. Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi 20..? Nhưng tuổi 20 của thời đại này đã phải dẹp lại những ước mơ mà lẽ ra họ phải có..."
Khó khăn vất vả nơi chiến trường là điều mà khi còn ở bên cha mẹ chị sẽ không thể hiểu. Đó là một vùng đất ngập trời bom đạn, hằn dấu giày quân xâm lược. Những cơn mưa rừng xối xả, nặng trút như đổ lửa, tiếng máy bay xục xạo trên đầu. Vậy mà người ta vẫn bền gan chiến đấu, ở đây cái chết dễ hơn ăn một bữa cơm. Câu nói giản dị này đã đủ để hình dung về sự ác liệt của chiến trường với những mất mát, hy sinh chị đã chứng kiến và trải qua. Với tâm hồn đa cảm, chị còn là điểm tựa tinh thần cho đồng đội trong những năm tháng tối tăm nhất của cuộc chiến. Đã nhiều người coi chị như con em trong nhà và nhớ về chị như câu chuyện sống động mới ngày hôm qua. Chị đã cứu chữa cho thương binh và người dân Đức Phổ, vóc dáng nhỏ bé băng rừng vượt suối dìu người lính thương tật ra khỏi trận càn quét. Người con gái Hà Nội vốn chỉ quen với sách bút, thơ văn lại mang trong mình nghị lực sắt đá. Ngày nhập ngũ chị đã biết khó có lúc trở về như bao người, chị vẫn chọn hiến dâng cho đất nước.
Chiến tranh cướp đi quá nhiều và những người trẻ ở thời đại ấy coi cái chết là điều quen thuộc. Người bạn hôm qua còn ngồi cạnh bên hôm nay đã nằm lại trong lòng đất lạnh lẽo. Với chị, mỗi người lính không cứu chữa được là nỗi đau xót khó phai. Có nhiều ca cấp cứu chị biết rằng mình đã nắm phần thua với tử thần; có người chiến sĩ bị bom đạn văng phải, những ca mổ không thuốc mê, những khuôn mặt trẻ măng nhăn nhúm trong đau đớn, tiếng rên siết hòa cùng tiếng đạn nổ. Giữa rừng thiêng nước độc, bệnh xá thiếu nước, thiếu thuốc, thiếu cả lương thực, chị vẫn cố gắng giữ lại từng sinh mạng bằng đôi tay và trái tim mình, bằng lòng trắc ẩn mạnh hơn cả bóng đêm chiến tranh.
Ngày 22/6/1970, bệnh xá Đức Phổ bị lính Mỹ tập kích. Điều này bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã lo từ trước vì có thông tin họ đã bị chỉ điểm. Quá đông thương binh nên đoàn chị chia thành hai đợt. Chị cùng hai y tá tình nguyện ở lại đi sau, dù biết sẽ nguy hiểm. Ba cô gái cứ chờ mãi vẫn chẳng thấy ai trở lại. Cạn lương thực, không thể để thương binh đói, chị để hai đồng nghiệp ra đi tìm tiếp viện, còn chị ở lại tới giây phút cuối cùng và hy sinh khi chưa tròn 28 tuổi. Trong triền miên nỗi nhớ, chị mơ ước ngày sum họp, được chạy về ngả vào lòng mẹ như còn trẻ thơ. Chị đã ngã xuống, không bao giờ thực hiện được ước mơ giản dị ấy.
Trang sử dân tộc đã tồn tại vết sẹo đỏ như máu không cách nào biến mất, những ám ảnh dai dẳng, những câu hỏi chưa có lời giải đáp, những khao khát yêu thương dang dở vẫn âm ỉ sống trong tâm trí mỗi người dù họ là ai, ở chiến tuyến nào, bởi chiến tranh không kết thúc dù tiếng súng đã ngừng vang. Câu chuyện của bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã khép lại, một thế hệ đã đi qua.
Vậy còn chúng ta, những người trẻ may mắn sinh ra trong hòa bình sẽ viết nên lịch sử của mình ra sao? Chẳng lẽ sự tồn tại của chúng ta chỉ là những chuỗi ngày nối tiếp nhau không để lại dấu ấn? Một cuộc đời nhạt nhòa không ai nhớ đến có thực sự là vô nghĩa? Câu trả lời nằm ở chính sự lựa chọn của mỗi chúng ta. Xin hãy sống trọn vẹn từng ngày, sống thay cho cả những người đã ngã xuống với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Bởi như lời chị Thùy Trâm đã nhắn nhủ trong nhật ký: "Đời người phải trải qua giông tố nhưng chớ cúi đầu trước giông tố". Hãy để cuộc đời của chúng ta là một chương mới đầy tự hào tiếp nối bản hùng ca mà thế hệ của chị đã viết bằng máu và hoa.



