Câu chuyện thời hoa lửa - Bức điện cuối cùng - Tấm lòng son với nước của người chí sĩ giữa cơn binh lửa ( Huỳnh Thúc Kháng ).
Vào năm 1947, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt, một người yêu nước già nua – người từng đảm nhận trọng trách Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam và Quyền Chủ tịch nước – đang lâm bệnh nặng tại Quảng Nam. Dù sức yếu, ông vẫn ngày đêm dõi theo tin chiến sự, lo cho vận nước như lo cho chính sinh mệnh của mình. Khi cảm nhận giờ phút cuối cùng đã đến, ông dặn thư ký gửi bức điện cuối cùng ra chiến khu Việt Bắc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lời nhắn “dẫu chết cũng kh
Tháng 3 năm 1947, khói lửa chiến tranh phủ dày trên bầu trời Trung
Bộ. Trong một căn nhà nhỏ ở làng Thanh Bình, Quảng Nam, người
chí sĩ lão thành đã gần tám mươi tuổi đang nằm trên chiếc giường tre
cũ. Căn bệnh viêm phổi tái phát khiến hơi thở trở nên nặng nhọc,
nhưng ánh mắt ông vẫn sáng rực như ngọn lửa chưa bao giờ tắt. Bên
giường, mấy người học trò thân tín thay phiên nhau chăm sóc, còn
ông thì liên tục hỏi: “ Tin từ Việt Bắc thế nào? Chính phủ có ổn
không? “.
Từ ngày được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội giữ chức quyền
Chủ tịch nước trong thời gian Người sang Pháp đàm phán, ông đã
dốc hết tâm huyết để duy trì đoàn kết quốc dân, kêu gọi nhân dân
ủng hộ Chính phủ kháng chiến. Ngày nào cũng vậy, dù yếu đến mấy,
ông vẫn ngồi dậy nghe tin tức, đọc lại các bản tuyên bố của Chính
phủ và góp ý cho cán bộ địa phương.
Hôm ấy, khi nghe tin thực dân Pháp mở rộng chiến dịch đánh vào
Nam Trung Bộ, ông cố ngồi dậy, nắm tay người thư ký và nói: “
Phải gửi điện ngay cho Cụ Hồ, báo rằng tôi tuy sắp đi xa, nhưng
lòng vẫn tin vào Chính phủ và cuộc kháng chiến của nhân dân ta”.
Người thư ký lặng người, run run viết theo lời ông đọc. Từng câu,
từng chữ như được chắt ra từ hơi thở cuối:
“ Tôi già yếu không qua khỏi, chỉ mong Chính phủ bền chí, đồng
bào đoàn kết, kháng chiến tất thắng. Xin vĩnh biệt Cụ Chủ tịch và
toàn thể đồng bào”.
Bức điện ngắn ngủi ấy được gửi đi bằng đường liên lạc khẩn ra
chiến khu Việt Bắc. Khi nhận được tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc
động nói: “ Cụ Huỳnh là tấm gương trong sáng của một bậc hiền
nhân, suốt đời vì nước vì dân, nghĩa trọn đạo trung hiếu”.
Chưa đầy hai ngày sau, người chí sĩ trút hơi thở cuối cùng. Bên
ngoài, mưa rơi lất phất, như tiễn biệt một nhân cách lớn. Nhân dân
Quảng Nam và cả nước đau buồn trước sự ra đi của người đã dành
cả đời đấu tranh cho dân tộc - từ phong trào Duy Tân, phong trào
Đông Du cho đến những năm đầu kháng chiến. Chính phủ quyết
định để tang toàn quốc trong hai ngày, một vinh dự hiếm có dành
cho một người không màng danh lợi, chỉ một lòng với Tổ quốc.
Người ta vẫn nhắc về bức điện cuối cùng ấy như một bản di chúc
tinh thần - ngắn gọn mà hùng hồn thể hiện trọn vẹn cốt cách của bậc
đại nghĩa sĩ: sống thanh bạch, làm việc nghĩa, chết giữa lòng dân tộc.
Dẫu thân thể đã khuất, nhưng tấm lòng son với non sông vẫn còn
sáng mãi như ngọn đuốc dẫn đường cho bao thế hệ sau này - những
người tiếp bước con đường mà Huỳnh Thúc Kháng đã khai mở bằng
máu và niềm tin không gì lay chuyển nổi.



