CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA : CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (3)
Hồ Chí Minh (1890 – 1969), vị lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của dân tộc Việt Nam, cuộc đời của Người là hành trình đấu tranh không nghỉ vì độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân. Người chính là hình mẫu của một người chiến sĩ cách mạng trọn đời hy sinh vì nước, vì dân, là tấm gương đạo đức sáng ngời đáng để học tập.
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA : CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh (1890 – 1969), vị lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của dân tộc Việt Nam, cuộc đời của Người là hành trình đấu tranh không nghỉ vì độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân. Người chính là hình mẫu của một người chiến sĩ cách mạng trọn đời hy sinh vì nước, vì dân, là tấm gương đạo đức sáng ngời đáng để học tập.
Câu chuyện được chia sẻ từ Sinh viên Phan Thị Thanh Nhàn - lớp Trung Quốc Học K48.
Sinh ra và lớn lên như bao người con ở mảnh đất Nghệ An, được sống trong một gia đình nhà nho yêu nước, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã nuôi dưỡng trong mình một khát vọng vô cùng mãnh liệt, đó là mong muốn dân ta được độc lập, tự do, giải phóng dân tộc. Chính vì lẽ đó nên đến năm 1911, người thanh niên vừa tròn 21 tuổiđax quyết định ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng.
Trong hành trình 30 năm bôn ba ở nước ngoài, từ Châu Á sang Châu Âu, Châu Phi và có những thời điểm bôn ba tận Châu Mỹ. Trong thời gian ấy, Người đã liên tục tham gia các hoạt động chính trị. Và rồi ngày ấy cũng đến, vào ngày 16 và 17/7/1920, báo Nhân đạo (L’Humanite) của Đảng Xã hội Pháp đăng toàn văn “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Người đọc, nghiên cứu bản Luận cương và Người đã tìm thấy ở đó con đường giải phóng dân tộc. Người đã thốt lên: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” (trích: cổng thông tin điện tử). Người đã khẳng định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản.
Đến tháng 2/1930, được sự tín nhiệm của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng cộng sản Việt Nam ở Cửu Long - Trung Quốc, và tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vĩ đại, đưa cách mạng Việt Nam trở thành bộ phận của cách mạng thế giới. Chấm dứt khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng kéo dài đầu thế kỷ XX, khẳng định giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ khả năng lãnh đạo, biến Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới, là nhân tố quyết định hàng đầu đưa đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.
Dưới sự lãnh đạo và đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, Cách mạng tháng 8/1945 giành thắng lợi, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Đến ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố tuyên ngôn độc lập.
Tuy nhiên, đất nước vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Dân ta buộc phải bước vào các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong suốt những năm tháng khốc liệt ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người lãnh đạo tối cao, vừa là linh hồn của kháng chiến, luôn cổ vũ ý chí sắt đá và niềm tin chiến thắng cho toàn dân tộc.
Những năm 1945-1954, các cuộc kháng chiến bùng nổ với tinh thần, ý chí quyết tâm: "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”. Chính vì tinh thần đoàn kết đáng quý ấy, nước ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954), chấp nhận rút quân về nước, công nhận và tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền. Miền Bắc hòa Bình được lập lại, nhưng tại miền Nam, dân quân ta vẫn còn phải kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Trước tình hình đó, Đảng chủ trương tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Trong đó, nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc trong giai đoạn này là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do" không chỉ là khẩu hiệu chiến đấu mà còn là lẽ sống. Vì thấy hiệu được lý lẽ đó, tại miền Nam, quân và dân ta đã kiên trì đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trải qua vô số gian khổ, tù đày hay khi ở trên cương vị nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu". Chính sự nhất quán giữa lời nói và hành động, giữa lý tưởng và cuộc sống đã làm nên một vị lãnh tụ vĩ đại.
Người không chỉ dừng lại ở sự nghiệp giải phóng dân tộc mà còn là người xây nền móng cho việc xây dựng một nhà nước mới - nhà nước của dân, do dân và vì dân. Quan điểm ấy không chỉ thể hiện trong tư tưởng mà còn trong phong cách sống, phương pháp lãnh đạo của Người. Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải luôn gần dân, hiểu dân, lắng nghe và phục vụ dân.
Trong những năm tháng “hoa lửa”, Hồ Chí Minh chính là ngọn lửa không bao giờ tắt trong lòng dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là bản anh hùng ca vĩ đại, là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ trẻ noi theo.
Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, hình ảnh Bác Hồ vẫn luôn sống mãi trong trái tim mỗi người Việt Nam. Câu chuyện về Người không chỉ là lịch sử, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của thế hệ trẻ: phải sống có lý tưởng, có ước mơ và sẵn sàng cống hiến cho quê hương, đất nước.
ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC HỒ VĨ ĐẠI



