Câu chuyện thời hoa lửa của liệt sĩ Phạm Kiều Đa, chiến sĩ Biệt động nội đô Đà Nẵng
Câu chuyện thời hoa lửa của liệt sĩ Phạm Kiều Đa, chiến sĩ Biệt động nội đô Đà Nẵng Khi mới chỉ 16 tuổi, Phạm Kiều Đa đã chọn con đường chiến đấu đầy gian khổ, trở thành chiến sĩ Biệt động nội đô Đà Nẵng, sống và hoạt động trong những căn hầm bí mật giữa vòng vây kẻ thù. Cuộc đời ông là một phần ký ức đặc biệt của lịch sử, nơi lòng quả cảm, sự hy sinh thầm lặng và niềm tin vào ngày mai hòa bình luôn rực rỡ.
Câu chuyện thời hoa lửa của liệt sĩ Phạm Kiều Đa, chiến sĩ Biệt động nội đô Đà Nẵng
Khi mới chỉ 16 tuổi, Phạm Kiều Đa đã chọn con đường chiến đấu đầy gian khổ, trở thành chiến sĩ Biệt động nội đô Đà Nẵng, sống và hoạt động trong những căn hầm bí mật giữa vòng vây kẻ thù. Cuộc đời ông là một phần ký ức đặc biệt của lịch sử, nơi lòng quả cảm, sự hy sinh thầm lặng và niềm tin vào ngày mai hòa bình luôn rực rỡ.
Vào năm 1968, khi thành phố Đà Nẵng đang bị địch chiếm đóng, hàng ngàn thanh niên địa phương đã tham gia phong trào kháng chiến nội đô. Ông Kiều Đa lúc đó mới học lớp 11, nhưng đã quyết định bỏ học tham gia quân đội, mong muốn góp sức đẩy kẻ thù ra khỏi quê hương. Ông được phân vào đơn vị Biệt động nội đô, làm nhiệm vụ thu thập thông tin về địch, sabotage đường xá, tiếp tế cho bộ đội ở tiền tuyến.
Mỗi ngày, ông phải di chuyển qua khu vực bị địch kiểm soát, lén vào các khu dân cư để thu thập thông tin về vị trí trạm kiểm soát, số lượng địch, loại vũ khí sử dụng. Ông đã từng bị địch truy điệu đến 3 lần, nhưng mỗi lần đều có sự giúp đỡ của người dân địa phương, trốn thoát khỏi vòng vây kẻ thù. Một lần, khi đang làm nhiệm vụ ở khu vực phường Hòa Cường, ông bị địch bắn trúng chân, nhưng vẫn giữ được chiếc hộp thông tin quan trọng, lén về căn hầm bí mật để nộp đơn vị. Sau đó, ông được điều trị tại cơ sở y tế hậu phương, nhưng vẫn không ngừng tham gia hoạt động cách mạng sau khi khỏi bệnh.
Năm 1971, khi đơn vị tổ chức cuộc tấn công vào trạm kiểm soát địch ở khu vực Ngũ Hành Sơn, ông Kiều Đa đã tự nguyện tham gia đội tiền tuyến. Trong cuộc chiến đấu, ông đã dùng súng máy bắn hạ 2 địch, nhưng bị địch bắn trúng ngực. Trước khi hy sinh, ông vẫn giữ chặt chiếc hộp thông tin, nhắn nhủ đồng đội: “Giữ gìn thông tin, đánh thắng giặc!”
Sau khi chiến thắng, đồng đội đã tìm thấy thi hài ông, mang về để an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Đà Nẵng. Để ghi nhận công lao của ông, Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, một danh hiệu cao quý dành cho những người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Cuộc đời ông Phạm Kiều Đa là một minh chứng cho lòng dũng cảm và sự hy sinh của thanh niên Việt Nam trong thời hoa lửa. Ông đã mang trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, để lại bài học sâu sắc về trách nhiệm và tình yêu nước cho thế hệ mai sau.



