Người có công giúp đỡ cách mạng

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA CỦA ÔNG LÊ HUY ĐÁP (1)

Đắk Lắk24/12/2025Lê Thị Khánh Linh (Đoàn xã Ea Drăng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA CỦA ÔNG LÊ HUY ĐÁP (1)

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA CỦA ÔNG LÊ HUY ĐÁP

“ÔNG NỘI TÔI”

“Có những con người ra đi không mang theo lời từ biệt, nhưng để lại phía sau cả một đời lịch sử.”

Thật vinh dự và thiêng liêng biết bao khi trong dòng chảy ký ức của gia đình tôi, có một người ông là liệt sĩ cứu nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông nội tôi – Lê Huy Đáp, sinh tháng 8 năm 1946, là một đoàn viên thanh niên lao động Hồ Chí Minh, một người con bình dị của quê hương, nhưng mang trong mình trái tim lớn lao của một người lính Cụ Hồ.

Ông sinh ra trong một gia đình nông dân giữa những năm tháng đất nước còn bộn bề khó khăn. Cuộc sống thiếu thốn, vất vả là thế, nhưng ông vẫn nỗ lực hoàn thành những năm tháng học hành hiếm hoi của tuổi trẻ. Và rồi, khi Tổ quốc cần, ông đã gác lại những dự định riêng của đời mình để lên đường cứu nước.

Năm 1969, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt và gay gắt nhất. Bom đạn giội xuống miền Nam, chiến trường đỏ lửa ngày đêm, sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Trong hoàn cảnh ấy, Đảng và Nhà nước gửi giấy kêu gọi thanh niên lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tháng 8 năm 1969, ông nội tôi cùng hàng vạn thanh niên Việt Nam khoác lên mình màu áo lính, mang theo lời thề thiêng liêng của người con đất Việt: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.”

Giữa chiến trường miền Nam khốc liệt, nơi bom Mỹ trút xuống không ngơi nghỉ, ông cùng đồng đội kiên cường bám trụ, vượt qua đói khát, thương tích và cái chết luôn rình rập. Trong một trận chiến ác liệt, ông đã bị bom Mỹ làm mất một bênchân. Cơn đau da thịt tưởng chừng xé toạc cơ thể, nhưng ông đã cắn răng chịu đựng, không than khóc cho riêng mình, chỉ mong những người anh em tiếp tục tiến lên tiêu diệt kẻ thù.

Ông chờ đợi đồng đội quay lại sau khi hoàn thành nhiệm vụ để cứu mình, nhưng thời gian không đứng về phía ông. Kiệt sức vì mất máu và thương tích nặng nề, ông đã được đưa đi trong im lặng. Và rồi, vì tình yêu nước quá lớn, vì đã dốc cạn sức mình cho Tổ quốc, ông đã hy sinh tại mặt trận phía Nam vào ngày 2 tháng 4 năm 1970, khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ông ra đi lặng lẽ, không một lời từ biệt. Có lẽ, trong khoảnh khắc cuối cùng ấy, ông đã âm thầm gửi lời chào đến đồng đội nơi chiến trường và gia đình nơi quê nhà – những người ngày đêm mong ngóng bóng hình ông trở về sau chiến tranh. Không một cái nắm tay tiễn biệt, không một lần nhìn mặt nhau lần cuối. Người đi thì đi mãi, người ở lại thì chờ đợi mãi… và cuối cùng chỉ được nghe tin qua lời kể của đồng đội ông.

Sự hy sinh của ông nội tôi, cũng như bao người lính khác, là minh chứng hùng hồn cho truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam. Các ông đã mang trên vai mình một trách nhiệm thiêng liêng mang tên “bảo vệ Tổ quốc”, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi xuân và tính mạng để đổi lấy hòa bình cho hôm nay.

Từ máu xương của ông tôi và những người đồng đội, các thế hệ sau mới có được cuộc sống yên bình, được học tập, được mơ ước và được sống trong độc lập, tự do. Chính vì thế, câu chuyện về thời hoa lửa của ông không chỉ là ký ức của một gia đình, mà còn là bài học sâu sắc cho thế hệ trẻ hôm nay: phải biết trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm với bản thân và với đất nước; không ngừng rèn luyện học vấn, đạo đức và nhân cách; nuôi dưỡng lòng yêu nước bằng những hành động thiết thực, sống xứng đáng với sự hy sinh ấy chính là cách tri ân sâu sắc nhất đối với những người đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam trường tồn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn