CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA CỦA ÔNG VŨ ĐÌNH THI
Có những con người đi qua chiến tranh như một ngọn lửa âm thầm, không ồn ào rực rỡ, nhưng cháy bền bỉ suốt cả một đời. Ông Vũ Đình Thi - người cựu chiến binh sinh ngày 03 tháng 3 năm 1953 tại thôn 3, xã Nga Thắng, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa - là một con người như thế!

Có những con người đi qua chiến tranh như một ngọn lửa âm thầm, không ồn ào rực rỡ, nhưng cháy bền bỉ suốt cả một đời. Ông Vũ Đình Thi - người cựu chiến binh sinh ngày 03 tháng 3 năm 1953 tại thôn 3, xã Nga Thắng, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa - là một con người như thế! Tuổi thơ ông lớn lên giữa làng quê nghèo miền biển xứ Thanh, nơi gió Lào hun nóng đất đai và hun đúc trong lòng những người trẻ ý chí kiên cường. Khi đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, tiếng gọi non sông vang lên tha thiết hơn bất cứ điều gì. Tháng 12 năm 1969, ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ, mang theo tuổi trẻ, ước mơ và cả lời hẹn thầm lặng với quê hương: “Ra đi để ngày trở về đất nước được yên bình”.
Những năm tháng từ 1969 đến 1973, ông là chiến sĩ F304, chiến đấu tại mặt trận Lào, địa bàn Quảng Trị - một trong những nơi khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đó là những ngày rừng sâu mưa dầm, bom đạn xé trời, cái chết cận kề từng bước chân. Người lính trẻ Vũ Đình Thi đã đi qua những cánh rừng cháy bom, những đêm hành quân không ánh đèn, chỉ có sao trời và niềm tin tất thắng dẫn lối. Trong gian khổ, ông hiểu sâu sắc thế nào là tình đồng đội - thứ tình cảm được kết bằng mồ hôi, máu và cả sự hy sinh lặng thầm.
Năm 1972, giữa chiến trường ác liệt, ông được tặng Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang hạng Nhất - phần thưởng cao quý cho lòng dũng cảm và tinh thần phụng sự không mệt mỏi. Đó không chỉ là vinh dự của riêng ông, mà còn là niềm tự hào của cả đơn vị, của quê hương nơi ông đã ra đi.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau ngày đất nước dần yên tiếng súng, ông tiếp tục con đường rèn luyện, học tập và cống hiến. Năm 1974, ông là học viên Trường Sĩ quan Lục quân 1 – Hòa Bình. Những năm tiếp theo, ông học tập tại Buôn Ma Thuật, rồi Trường Đảng Quân khu 2, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ chỉ huy. Năm 1975, ông vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng - một dấu mốc thiêng liêng trong cuộc đời người lính.
Từ 1978 đến 1988, ông đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng: Chỉ huy phó, Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lai Châu. Trên vùng đất biên cương Tây Bắc còn nhiều gian khó, ông cùng đồng đội vừa xây dựng lực lượng, vừa giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Mười năm sau đó, từ 1989 đến 1993, ông tiếp tục là Chỉ huy phó, Tham mưu trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện Phong Thổ, tận tụy đến ngày hoàn thành nhiệm vụ.
Những phần thưởng Nhà nước trao tặng cho ông là minh chứng cho một đời tận hiến:
- Huân chương Kháng chiến Vẻ vang hạng Nhất năm 1972
- Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang hạng Ba năm 1980
- Huy chương Kháng chiến hạng Nhất năm 2000
- Và đặc biệt, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng - dấu son lặng lẽ nhưng rực rỡ nhất của niềm tin, sự trung thành và lý tưởng không đổi.


