CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - CỰU CHIẾN BINH NGUYỄN VĂN MINH
Chúng tôi gặp ông Nguyễn Văn Minh trong một buổi chiều rất đỗi bình yên – cái bình yên mà phải đánh đổi bằng biết bao máu xương của những con người như ông. Tháng Tám năm 1969, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cam go, ác liệt, Nguyễn Văn Minh một chàng trai trẻ nhận giấy gọi nhập ngũ. Tờ giấy mỏng nhưng mang theo sức nặng của non sông. Ông kể, khi cầm giấy gọi trên tay, lòng ông không tránh khỏi những phút bồi hồi: thương cha mẹ, nhớ mái nhà đơn sơ, nhớ những con đ
Chúng tôi gặp ông Nguyễn Văn Minh trong một buổi chiều rất đỗi bình yên – cái bình yên mà phải đánh đổi bằng biết bao máu xương của những con người như ông.
Tháng Tám năm 1969, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cam go, ác liệt, Nguyễn Văn Minh một chàng trai trẻ nhận giấy gọi nhập ngũ. Tờ giấy mỏng nhưng mang theo sức nặng của non sông. Ông kể, khi cầm giấy gọi trên tay, lòng ông không tránh khỏi những phút bồi hồi: thương cha mẹ, nhớ mái nhà đơn sơ, nhớ những con đường làng còn in dấu chân tuổi thơ. Nhưng trên tất cả, đó là cảm giác tự hào bởi được Tổ quốc gọi tên cũng chính là được lịch sử trao cho một sứ mệnh.
Ông được huấn luyện tại Sư đoàn 5, Tiểu đoàn 2/338 ở Ngọc Lặc. Năm tháng huấn luyện là những ngày rèn giũa con người từ ý chí đến thể lực. Những bước hành quân nặng nề, những buổi tập bắn giữa nắng gió, những đêm thao trường thức trắng. Gian khổ nối tiếp gian khổ, nhưng chính trong thử thách ấy, người lính trẻ học được cách vượt lên chính mình, học được kỷ luật, tinh thần tập thể và lòng trung thành tuyệt đối với nhiệm vụ.
Kết thúc huấn luyện, ông cùng đồng đội hành quân vào chiến trường miền Nam. Từ những chuyến xe, chuyến tàu đưa đoàn quân đến Quảng Bình, họ bắt đầu một cuộc hành quân trường kỳ xuyên rừng Trường Sơn. Đến nơi tập kết, ông được bổ sung về Sư đoàn 7, Trung đoàn 34, C17. Thời điểm ấy, chiến trường miền Đông Nam Bộ và khu vực biên giới nóng bỏng từng ngày. Địch càn quét dữ dội, chiến sự lan sang cả đất Campuchia. Người lính Việt Nam không chỉ bảo vệ từng tấc đất quê hương, mà còn gánh trên vai nhiệm vụ quốc tế cao cả, góp phần bảo vệ hành lang chiến lược của cách mạng. Chiến tranh hiện lên không chỉ bằng tiếng súng, mà bằng cái đói triền miên, cái rét rừng sâu và những cơn sốt rét ác tính. Ông Minh kể, có những ngày lương thực cạn kiệt, gạo và muối trở thành thứ xa xỉ. Bộ đội phải vào rừng tìm rau, đào củ để cầm cự qua ngày.
Tháng 12 năm 1971, trên đất Campuchia, đại đội pháo của ông nhận lệnh xuất kích, chiếm lĩnh vị trí chiến đấu sát mặt đường, cách hướng địch càn quét khoảng 200 mét. Đó là một đêm mà ký ức của ông không bao giờ phai mờ. Khoảng bảy giờ tối. Trời tối, nhưng chiến trường sáng rực bởi pháo sáng, bom đạn xé gió, tiếng nổ dội thẳng vào lồng ngực. Mọi vật hiện lên rõ ràng đến rợn người. Ông Minh là pháo thủ số 2. Bên cạnh ông là anh Nguyễn Văn Tý – pháo thủ số 1, và anh Sáu – pháo thủ số 3. Khi chiếc xe tăng địch đầu tiên xuất hiện, anh Tý bình tĩnh bóp cò. Một tiếng nổ vang lên, chiếc xe tăng bốc cháy dữ dội. Nhưng ngay sau đó, những chiếc xe tăng khác tản ra, bắn xối xả về phía trận địa. Trong mưa đạn ấy, anh Tý trúng đạn và hi sinh. Anh ngã xuống – người đồng đội mà ông Minh luôn kính trọng, người đã tận tình dìu dắt ông trong học tập và chiến đấu. Không kịp khóc, không kịp gọi tên, ông và anh Sáu vừa lắp đạn, vừa bắn trả địch trong nỗi đau nghẹn ngào. Các đơn vị bạn nhanh chóng xuất kích phối hợp, đẩy lùi quân địch. Trận đánh kết thúc. Công tác liệt sĩ được tiến hành ngay trong đêm. Anh Tý được chôn cất gần mặt trận, trở về với đất mẹ giữa rừng sâu. Sự hi sinh ấy trở thành vết khắc không thể xóa nhòa trong ký ức người ở lại.
Tháng 5 năm 1972, tại đường lộ 13 hướng Biên Long, đơn vị ông Minh tham gia một trận phục kích quan trọng. Bộ đội ta chốt chặt đội hình, bao vây, áp sát địch. Trước thế trận kiên cường và mưu trí, địch buộc phải rút lui. Trong trận đánh ấy, đơn vị ông bắn cháy một chiếc xe tăng của đối phương. Đó là chiến công được làm nên không chỉ bằng vũ khí, mà bằng trí tuệ, lòng dũng cảm và tinh thần quyết tử của người lính cách mạng.
Nhắc về những năm tháng chiến đấu, ông Nguyễn Văn Minh không nhận mình là người hùng. Ông chỉ lặng lẽ nói: “Ông tự hào vì đã góp được một phần nhỏ cho đất nước.” Với ông, dù chiến tranh gian khổ và tàn khốc, đó vẫn là quãng đời vinh quang nhất, nơi ông đã sống trọn với lý tưởng, với tình yêu quê hương đất nước. Những hi sinh ấy đã góp phần làm nên ngày đất nước thống nhất, để hôm nay dân tộc Việt Nam được sống trong hòa bình, độc lập và đang từng bước xây dựng một xã hội phồn vinh, công bằng, dân chủ, văn minh.



