NGƯỜI ANH HÙNG TÔ VĂN ĐỰC
Câu chuyện về Anh hùng Tô Văn Đực – người con Củ Chi dùng trí tuệ, sáng tạo và lòng yêu nước để chế tạo vũ khí trong thời chiến, qua đó truyền cảm hứng về ý chí và trách nhiệm cho tuổi trẻ hôm nay.


ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TÔ VĂN ĐỰC
“Cỗ máy phá tăng” của vùng đất thép Củ Chi

Ảnh tư liệu: Báo Quân đội nhân dân (xem nguồn tham khảo ở cuối bài).
Có một thời tuổi trẻ đã sống như thế
Có những câu chuyện lịch sử càng tìm hiểu càng khiến chúng ta tự hỏi: Điều gì đã giúp những con người bình dị có thể đứng vững giữa bom đạn, thiếu thốn và hiểm nguy? Điều gì khiến một người nông dân, không được học hành bài bản, vẫn có thể dùng trí tuệ và đôi bàn tay của mình để góp phần bảo vệ quê hương? Tôi đã tìm thấy câu trả lời phần nào trong câu chuyện về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Tô Văn Đực, người con của vùng đất thép Củ Chi.
Ông có tên thật là Tô Hoài Đức, sinh năm 1942 tại Nhuận Đức, Củ Chi. Cha mẹ mất khi ông mới 8 tuổi. Tuổi thơ nhọc nhằn của ông gắn liền với lưng trâu, bãi cỏ, với những giọt mồ hôi làm thuê và những đêm cạo mủ cao su vất vả. Chính hoàn cảnh khó khăn ấy đã hun đúc ở ông sự chịu khó, bền bỉ và nghị lực phi thường.
Từ người lính đến người thợ quân giới dưới lòng đất
Năm 1960, vừa tròn 18 tuổi, Tô Văn Đực tình nguyện gia nhập lực lượng du kích xã Nhuận Đức. Những ngày đầu, ông làm nhiệm vụ tải đạn, tải thương và tham gia đào địa đạo. Hai năm gắn bó với địa đạo giúp ông rèn luyện sức chịu đựng, sự tỉ mỉ và hiểu biết thực tế về vùng đất Củ Chi. Năm 1962, ông nhập ngũ và được điều vào xưởng sản xuất vũ khí thô sơ của Huyện đội Củ Chi. Xưởng chỉ là một lò rèn với những dụng cụ đơn sơ; nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, mảnh bom, đường ray, ống thép nhặt được từ chiến trường.
Không qua bất kỳ trường lớp đào tạo kỹ thuật nào, người thợ cơ khí "chân đất" ấy đã tự mày mò học hỏi bằng đôi mắt quan sát tinh tế, trí nhớ phi thường và đôi bàn tay không biết mệt mỏi. Ông từng tháo một khẩu súng Mỹ để nghiên cứu cấu tạo rồi tự vẽ, tự ráp lại. Trong khoảng hai năm, ông cùng đồng đội chế tạo nhiều loại súng phục vụ chiến đấu, trong đó có việc cải tiến súng K54 từ 8 viên lên 14 viên.
“Mìn gạt” – dấu ấn của trí tuệ và sáng tạo
Năm 1966, khi xe tăng và xe bọc thép được sử dụng ngày càng nhiều trong các cuộc càn quét Củ Chi, Tô Văn Đực trăn trở phải tìm cách chống lại những phương tiện hiện đại ấy. Từ một loại mìn cán được bộ đội công binh cho mượn, ông nghiên cứu và thử nghiệm để tạo ra mìn gạt – loại mìn có cơ chế kích nổ khi xe tăng va vào bộ phận gạt. Sáng kiến ấy được sử dụng trên chiến trường Củ Chi và góp phần tạo nên danh hiệu “Anh hùng mìn gạt” hay “cỗ máy phá tăng” mà đồng đội và người dân dành cho ông. Ngày 17-9-1967, Tô Văn Đực được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Điều còn lại sau những năm tháng chiến tranh
Chiến tranh kết thúc, Tô Văn Đực tiếp tục phục vụ trong quân đội, làm công tác kỹ thuật và đến năm 1992 nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Trở về đời thường, ông lại gắn bó với nghề nông, cùng gia đình khai phá đất đai, trồng cây, chăn nuôi và xây dựng cuộc sống. Điều khiến trái tim tôi rung động sâu sắc không chỉ là những chiến công hiển hách của ông, mà chính là nét bình dị, chất phác khi trở về với thời bình. Một người từng sống giữa bom đạn, từng nghiên cứu vũ khí dưới lòng đất, cuối cùng trở về với vườn cây và cuộc sống đời thường. Nhưng phẩm chất của người lính, tinh thần tự lực, tự cường và trách nhiệm với quê hương vẫn còn nguyên vẹn.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Từ “thời hoa lửa” nghĩ về tuổi trẻ hôm nay
Nếu thế hệ Tô Văn Đực đã dùng trí tuệ để bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh, thì tuổi trẻ hôm nay cần dùng trí tuệ để xây dựng đất nước trong thời bình. Chúng ta không còn phải cầm súng ra trận, nhưng hòa bình không có nghĩa là tuổi trẻ không còn trách nhiệm. Là một giáo viên trẻ, sự tiếp nối ấy có thể đơn giản là một tiết dạy tận tâm, là những sáng kiến đổi mới phương pháp giảng dạy để các em học sinh có những giờ học say mê hơn. Đó còn là từng hành động nhỏ mỗi ngày để ươm mầm, giáo dục các em biết yêu thương, trân trọng hòa bình và sống có trách nhiệm với quê hương. Là đoàn viên, đó có thể là tinh thần tiên phong, chủ động học tập nghị quyết, tích cực tham gia hoạt động Đoàn và sống có trách nhiệm với tập thể.
Câu chuyện về Tô Văn Đực nhắc tôi rằng hoàn cảnh không quyết định giới hạn của một con người. Không có trường lớp kỹ thuật đầy đủ, ông vẫn tự học. Không có nguyên liệu hiện đại, ông tận dụng những gì mình có. Không có điều kiện thuận lợi, ông vẫn tìm cách hoàn thành nhiệm vụ.
Giữ lửa từ quá khứ – tiếp bước bằng việc làm hôm nay
“Câu chuyện thời hoa lửa” không chỉ là hành trình trở về với quá khứ. Đó còn là dịp để mỗi người trẻ soi lại chính mình và tự hỏi: Mình sẽ làm gì để xứng đáng với những hy sinh của thế hệ đi trước? Chúng ta không thể trở lại những năm tháng chiến tranh để cùng thế hệ cha anh cầm súng. Nhưng chúng ta có thể tiếp nối họ bằng những việc làm của thời đại mình: học tập tốt hơn, làm việc trách nhiệm hơn, sáng tạo hơn, sống tử tế hơn và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng câu chuyện về Tô Văn Đực vẫn còn nguyên giá trị. Thời hoa lửa đã đi qua, nhưng ngọn lửa của lòng yêu nước, ý chí, trí tuệ và trách nhiệm thì không bao giờ được phép tắt. Và có lẽ, cách đẹp nhất để thế hệ hôm nay tri full ân những người như Tô Văn Đực chính là không chỉ nhớ về họ, mà còn biến những bài học từ cuộc đời họ thành hành động của chính mình.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TƯ LIỆU

Hình 2. Hình ảnh Tô Văn Đực thời trẻ trong xưởng chế tạo vũ khí.

Hình 3. Tô Văn Đực trong cuộc trò chuyện với cán bộ, đồng đội.

Hình 4. Hình ảnh tư liệu giới thiệu Anh hùng Tô Văn Đực – “cỗ máy phá tăng”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo Quân đội nhân dân, “Tô Văn Đực - người anh hùng chế tạo vũ khí trong lòng đất thép Củ Chi”, 2026.
2. Báo Quân đội nhân dân, “Cỗ máy phá tăng Tô Văn Đực: Ý chí và lòng yêu nước vượt qua bom đạn”, 30/4/2025.
3. Báo Quân đội nhân dân, “Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm, tặng quà gia đình chính sách tại TP. Hồ Chí Minh”, 9/5/2021.
4. Hình 1. Anh hùng LLVT nhân dân Tô Văn Đực và những dấu ấn từ thời hoa lửa.
Tam Bình, ngày 27 tháng 10 năm 2026
Người viết
Lưu Thị Hồng Dung



