CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - GỬI TUỔI THANH XUÂN CHO ĐẤT NƯỚC - ĐẶNG ĐÌNH TÀI
Lịch sử dân tộc Việt Nam là một chặng đường dài với biết bao gian nan và mất mát. Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức về những năm tháng gian khổ vẫn còn in đậm trong tâm trí người Việt. Một lần cầm súng là một lần quyết tâm, là một lần hy sinh, không ngần ngại đưa bản thân mình ra để đổi lấy hòa bình. Và mỗi lần tôi nghe ông tôi kể về câu chuyện năm ấy, là một lần tôi dốc hết lòng, thầm cảm ơn sâu sắc tới ông cha ta.
Ông tôi sinh năm 1949, là một chiến sỹ của kháng chiến chống Mỹ năm 1954. Ông kể rằng: Ông bắt đầu hoạt động vào năm 1968. Năm ấy ông hoạt động ở đơn vị 305B. Ông bắt đầu huấn luyện bộ binh để vào chiến trường chống Mỹ. Khi vào chiến trường thì ông đi bộ. Sự gian nan, khó khăn chỉ cần nghe qua giọng kể run run ấy, tôi đã có thể cảm nhận được. Sau 2 tháng vào đến chiến trường tỉnh Quảng Nam, làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước, đến khi bị thương và phải ra miền Bắc điều trị. Tôi vẫn nhớ, nó hẳn như khắc sâu vào trong tim tôi,Có một mảnh đạn năm xưa đã găm lại nơi chân ông, nhỏ bé thôi nhưng đủ để trở thành một phần ký ức không bao giờ rời khỏi cơ thể. Nó nằm đó, như một chứng tích lặng thầm của những ngày lửa đạn, khi tuổi trẻ ông hòa cùng khói súng và đất đỏ chiến trường. Ông hiếm khi nhắc đến, chỉ đôi lúc xoa nhẹ lên vết sẹo đã bạc màu, ánh mắt xa xăm như chạm vào một miền ký ức rất cũ. Những ngày trời trở gió, nhất là khi mưa về, cơn đau lại âm ỉ dâng lên, len lỏi qua từng thớ thịt như tiếng thì thầm của quá khứ. Ông vẫn bước đi chậm rãi, cố giấu đi sự nhức nhối trong từng bước chân, để nụ cười hiền không phai trên gương mặt đã hằn sâu vết thời gian. Nó có lẽ như dấu ấn khó phai nhoà, cũng như nhân chứng cho công lao của ông và những người đồng đội năm ấy. Tiếng bom đạn năm xưa không chỉ xé toạc bầu trời, mà còn in hằn trong thính giác của ông như một vết sẹo vô hình. Những âm thanh rung chuyển cả đất trời ấy đã theo ông trở về, nằm lại trong đôi tai đã từng nghe quá nhiều tiếng nổ, quá nhiều tiếng gọi nhau giữa khói lửa mịt mùng. Có những đêm yên tĩnh, khi gió chỉ khẽ lùa qua hiên nhà, ông vẫn chợt giật mình vì tưởng đâu đó vọng về âm vang của chiến trường cũ.
Tai ông không còn nghe rõ như xưa. Mỗi lần tôi gọi, ông thường nghiêng đầu, đưa tay lên vành tai, mỉm cười hiền hậu như để che đi sự bất lực của thời gian và ký ức. Không chỉ có dưới đất là khói bom, súng đạn, ngay cả trên trời cũng đầy rẫy những nguy hiểm, các chất độc hoá học được rải xuống để huỷ hoại thiên nhiên và con người của dân tộc ta. Hiện tại, ông tôi vẫn được hưởng chế độ của người nhiễm chất độc màu da cam, nhưng sự đánh đổi ấy là quá lớn. Sau đó, khi ông được chữa trị khỏi vết thương, ông được học lái xe và sang Lào phục vụ, giúp đỡ nước bạn. Đến 15 năm sau thì về Việt Nam và nghỉ chế độ mấy sức lao động của quân đội và tham gia sản xuất đến nay. Trong những ngày tháng ấy, ông tôi đã gấp lại thanh xuân của mình như gấp một trang sách còn dang dở, rời xa mái nhà nhỏ và ánh đèn ấm áp, để bước vào chiến trường đầy gió cát và hiểm nguy. Qua lời kể của ông, tôi không thấy sự hy sinh, tôi không thấy sự bi thương, nhưng tôi cảm nhận được sự vĩ đại và sự mất mát mà ông đã giấu nhẹm đi. Thỉnh thoảng, ông đứng trầm ngâm một lúc lâu, nhìn vào tấm bằng khen của ông, chắc hẳn ông đang nhớ lại quá khứ, kỉ niệm, cũng như nỗi đau cùng các đồng đội năm ấy. Tôi thương ông, thương ông cha ta, cũng như cảm ơn và tự hào về tất cả mọi người trong những cuộc chiến đẫm máu đó.
Cảm ơn Người đã mang tới cho thế hệ sau một cuộc sống yên bình và trọn vẹn. Lòng biết ơn và sự trân quý công lao của những người đi trước là đạo lý làm người và là một phần không thể thiếu trong hành trang sống của mỗi chúng ta, sống xứng đáng với những hy sinh ấy.



