CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA HOÀNG HOA THÁM - NGỌN LỬA YÊU NƯỚC CHÁY MÃI TRONG BA THẬP KỶ KHÁNG CHIẾN
Tác giả: Nông Văn Quyền
Đơn vị: CNTT K23I, Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông
LỜI NÓI ĐẦU
Bác Hồ từng nói “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt
Nam”. Quả đúng như vậy lịch sử có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi
người, mỗi thế hệ. Bên cạnh những sự kiện lịch sử lẫy lừng ấy là những vị anh
hùng mang trong mình dòng máu kiên cường cùng ý chí bất khuất, dũng cảm.
Cuộc thi “Câu chuyện thời hoa lửa” không chỉ nhắc lại cho tôi về lịch sử mà còn
là cơ hội để tôi nhìn lại hình bóng của những nhân vật xuất chúng với lòng yêu
nước.
Bài viết là câu chuyện về vị anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám - thủ lĩnh tối cao
của phong trào Yên Thế chống thực dân Pháp. Với tài lãnh đạo nghĩa quân
chống Pháp liên tục gần 30 năm, Hoàng Hoa Thám bằng chiến thuật du kích tài
tình đã tránh được mũi nhọn của quân Pháp và đã gây cho chúng những tổn thất
nặng nề, không một sự sợ hãi, không một sự chùn bước, ý chí bất khuất kiên
cường ấy là biểu tượng cho con người đất Việt máu đỏ da vàng.
Về anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám, tôi mang trong mình cảm xúc sâu sắc và
khó tả vì nơi ông ngã xuống chính là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Để có được hòa
bình ngày hôm nay, ông đã đánh đổi bằng cả xương máu. Vì vậy, từ câu chuyện
hoa lửa này, tôi muốn thể hiện niềm biết ơn sâu sắc đến vị anh hùng bất khuất
kiên cường vì dân tộc, đồng thời truyền tải đến người đọc tinh thần của vị anh
hùng trong nhiệm vụ giữ gìn những giá trị bền vững của lịch sử dân tộc Việt
Nam.
TIỂU SỬ NGẮN
Đề Thám sinh năm 1858, trước khi cải từ họ Trương sang họ Hoàng, ông còn
mang họ Đoàn. Sinh thời, cha mẹ ông đều là những người rất trọng nghĩa khí;
cả hai đều gia nhập cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Nhàn, Nông Văn Vân ở
Sơn Tây.
THỜI KỲ ĐẦU
Hoàng Hoa Thám tham gia khởi nghĩa của Đại Trận (1870–1875), và được gọi
là Đề Dương. Khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất (tháng 11/1873), Hoàng Hoa
Thám gia nhập nghĩa binh của Trần Xuân Soạn, lãnh binh Bắc Ninh. Khi Pháp
chiếm Bắc Kì lần thứ 2 (tháng 4/1882), ông tham gia khởi nghĩa của Cai Kinh ở
Hữu Lũng (1882–1888). Cuối năm 1885 ông cùng Bá Phức trở lại Yên Thế
đứng dưới cờ của Lương Văn Nắm (Đề Nắm) và trở thành một tướng lĩnh có
tài.
CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN
Trận đánh ở Đồng Hom vào tháng 3-1892, Đề Thám đã diệt mấy chục tên địch.
Tiếp đến, nhiều trận đánh khác đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Thất bại
trong âm mưu tiêu diệt nhanh nghĩa quân, giặc Pháp hai lần giảng hòa với Đề
Thám. Lần thứ nhất năm 1894, kẻ địch buộc phải để ông làm chủ 4 tổng: Hữu
Thượng, Nhã Nam, Mục Sơn và Yên Lễ, tức là gần hết vùng Thượng Yên Thế.
Lần thứ hai năm 1897, Pháp phải công nhận ông được phép khẩn hoang ở Phồn
Xương, được giữ 25 tay súng bảo vệ đất đai của mình.
Đồn điền Phồn Xương thực chất là căn cứ chống Pháp. Hoàng Hoa Thám vừa
tiếp tục ngấm ngầm huấn luyện quân ngũ, vừa cày cấy khai phá đất đai để tích
trữ lương thực. Phồn Xương cũng là nơi thu hút các sĩ phu, thủ lĩnh các phong
trào yêu nước. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đến với Hoàng Hoa Thám để
bàn bạc việc phối hợp tác chiến, viện trợ lẫn nhau giữa các phong trào. Hoàng
Hoa Thám đã giúp đỡ Duy tân hội xây dựng đồn điền “Tú Nghệ” (do Phạm Văn
Ngôn và Hoàng Xuân Hành phụ trách) để luyện tập quân sự. Hoàng Hoa Thám
cũng mở rộng hoạt động về tận Hà Nội, liên hệ với đảng Nghĩa Hưng tiến hành
vụ đầu độc lính Pháp ngày 27/6/1908.
SỰ HY SINH ANH DŨNG
Trong gần 12 năm tạm hòa hoãn, thực dân Pháp tìm mọi cách để hạ uy tín của
hoàng Hoa Thám, thủ tiêu ông, nhưng ông cảnh giác , sẵn sàng chiến đấu mỗi
khi thực dân Pháp bội ước phản công. Từ tháng 1- 1909, thực dân Pháp tấn công
trở lại, Hoàng Hoa Thám đã kịp thời đối phó. Ông đã huy động những tay súng
còn lại cùng với những tướng lính tâm phúc như Cả Dinh, Cả Huỳnh, Ba
Biều…tiếp tục cuộc chiến đấu ngày một ác liệt quanh các vùng Phúc Yên, Thái
nguyên, Tam Đảo, Yên Thế…Đầu tháng 11-1909, thực dân Pháp dồn lực lượng
về Yên Thế bao vây Đề Thám, Bà Ba Cẩn (vợ ba Đề Thám) bị bắt, nhiều nghĩa
quân khác lần lượt bị hi sinh. Nghĩa quân Yên Thế dần dần tan rã. Đề Thám chỉ
còn lại một mình với hai nghĩa quân sống ẩn náu trong núi rừng Yên Thế. Ngày
10-2-1913, ông bị bọn tay sai của Pháp sát hại.
LỊCH SỬ GHI CÔNG ÔNG
Khi cuộc khởi nghĩa Yên Thế bị coi là thất bại vào đầu năm 1913, nhà chí sĩ
Phan Bội Châu trong bài viết về Hoàng Hoa Thám đã có những câu cảm thán:
“Than ôi! Tội ác của kẻ thù ngút trời, thế lực của kẻ thù gấp hàng trăm lần, thế
mà ông Hoàng một mình đã chống chọi được với chúng gần ba chục năm trời.
Ông đã tập hợp và rèn luyện những con người tầm thường thành một đội ngũ
mạnh mẽ và ông đường đường là một vị tướng quân tiếng tăm lừng lẫy. Ông
xứng đáng là một chân quốc nhân, xứng đáng là một chân tướng quân!”. Thậm
chí, cho tới tận ngày nay, vẫn tiếp tục tồn tại những giả thuyết khác nhau về cái
chết của Hoàng Hoa Thám tháng 2/1913… Không ít nhà nghiên cứu tin rằng, có
thể kẻ thù đã không thể sát hại ông tại thời điểm đó. Trong lịch sử dân tộc, hình
ảnh Hoàng Hoa Thám chính là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Yên Thế anh hùng.
Hình ảnh vị anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám.
Một đoạn thành đồn Phồn Xương, xã Hữu Xương, huyện Yên Thế, Bắc Giang,
di tích của phong trào khởi nghĩa Yên Thế.
*Nguồn tài liệu: wiki, baotanglichsu
*Nguồn ảnh: baotanglichsu



