Câu chuyện thời hoa lửa Lê Duẩn
Lê Duẩn: Nhà lãnh đạo cách mạng, Tổng Bí thư Đảng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước
LÊ DUẨN
(1907-1986)
Ông sinh ngày 7-4-1907 tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình lao động có truyền thống yêu nước. Năm 1928, tham gia Đảng Tân Việt. Năm 1929, tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, ông là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1931, ông là Uỷ viên Ban Tuyên huấn của Xứ uỷ Bắc Kì, bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, bị kết án 20 năm tù cấm cố và lần lượt bị giam ở các nhà lao Hà Nội, Sơn La, Côn Đảo.
Năm 1936, do áp lực của cuộc đấu tranh của nhân dân ta và thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp, ông được trả lại tự do.
Sau đó, ông ra sức đẩy mạnh hoạt động cách mạng ở các tỉnh miền Trung, giữ chức Bí thư Xứ uỷ Trung Kì (1937).
Năm 1939, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và dự Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương, quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ, chuyển hướng cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kì mới.
Năm 1940, ông bị địch bắt ở Sài Gòn, kết án 10 năm tù và đày ra Côn Đảo. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ông được về đất liền tham gia cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Năm 1946, ông ra Hà Nội, cuối năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cử ông vào lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Tại Đại hội lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị Bí thư Xứ uỷ, rồi Bí thư
Trung ương Cục miền Nam, ông đã lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến và tiến hành cải cách ruộng đất trong vùng giải phóng.
Từ năm 1954 đến năm 1957, sau khi Hiệp định Giơnevơ được kíkết, ông ở lại miền Nam lãnh đạo phong trào cách mạng, củng cố các cơ sở cách mạng, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu chống Mĩ. Năm 1956, ông dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam.
Năm 1957, ông lại được điều động ra Trung ương làm việc. Tại Đại hội Đảng lần thứ III (1960), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất và từ năm 1978 là Bí thư Quân uỷ trung ương.
(1976) và lần thứ V (1982), ông Tại Đại hội Đảng lần thứ IV được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử vào Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư. Ông còn là đại biểu Quốc hội khoá II, III.
Do những cống hiến to lớn, ông đã được Quốc hội và Chính phủ tặng Huân chương Sao vàng; các nước anh em tặng nhiều huân chương cao quý. Uỷ ban giải thưởng quốc tế Lênin tặng ông giải thưởng Vì sự nghiệp củng cố hoà bình giữa các dân tộc.



