CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - LÊ THỊ HƯƠNG
Tại phường Yên Dũng hôm nay, giữa nhịp sống hối hả của một vùng quê đang vươn mình mạnh mẽ, vẫn có một người bà hiền hậu ngày ngày vẫn nâng niu chiếc lược nhôm cũ kỹ và bộ quân phục đã sờn vai. Đó là bà Lê Thị Hương – người đã đi qua những năm tháng mà cái chết nhẹ tựa lông hồng để giữ vững mạch máu giao thông cho tiền tuyến. Ngồi nghe bà kể chuyện, tôi chợt nhận ra rằng, đằng sau dáng vẻ nhỏ nhắn ấy là một tâm hồn thép, một ngọn lửa yêu nước chưa bao giờ tắt kể từ cái ngày bà rời lũy tre xanh Yên Dũng vào năm 1968...
Giữa khúc ca thanh bình dưới chân núi Nham Biền, bà Hương ngồi bên tách trà xanh, đôi mắt đã mờ đục theo thời gian nhưng ký ức về năm 1968 vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua. Ngày đó, Yên Dũng không có phố xá sầm uất như bây giờ, chỉ có những triền đê hun hút gió và tiếng loa phát thanh thúc giục thanh niên lên đường.Bà khẽ vuốt ve chiếc huy hiệu TNXP trên ngực áo, giọng trầm xuống:“Lúc đó bà mới mười tám tuổi, cái tuổi mà con gái bây giờ còn đang mải mê áo quần, phấn son. Nhưng thời của bà, đẹp nhất là màu xanh áo lính. Bà giấu mẹ viết đơn tình nguyện bằng mực đỏ, như một lời thề. Ngày ra đi, mẹ chỉ kịp nhét vào túi áo bà một chiếc gương nhỏ bằng lòng bàn tay và bảo: ‘Đi rồi nhớ về soi gương, đừng để khói bom làm đen mất nụ cười con gái nhé’...”. Bà bước đi, bỏ lại sau lưng dòng sông Thương hiền hòa để dấn thân vào miền đất lửa khu IV, nơi mà bầu trời không bao giờ thực sự tối vì pháo sáng và bom đạn.
Đơn vị của bà được điều động vào chốt chặn tại một trong những "tọa độ chết" trên đường Trường Sơn. Nhiệm vụ của các cô gái TNXP ngày ấy là san lấp hố bom, giữ vững mạch máu giao thông cho xe vào Nam. Công việc diễn ra chủ yếu vào ban đêm, dưới ánh pháo sáng xanh lè của địch.Bà Hương kể lại một kỷ niệm kinh hoàng nhưng đầy kiêu hãnh:“Có những đêm, máy bay B-52 rải thảm đến mức đất đá nhào lộn như sóng biển. Bom vừa dứt, chúng tôi lao ra ngay. Tay cuốc, tay xẻng, đất đá bắn vào mắt cay xè nhưng không ai dám dừng lại. Có lần, một quả bom nổ chậm nằm lù lù giữa đường. Đơn vị ra lệnh rút, nhưng đoàn xe chở đạn phía sau đã tiến sát. Bà và ba chị em nữa bàn nhau: ‘Nếu bom nổ, mình hy sinh nhưng đường thông; nếu không dọn, cả đoàn xe sẽ tan tành’. Thế là bốn chị em lấy đôi vai trần, dùng đòn bẩy khênh khối thép lạnh ngắt ấy đẩy xuống vực. Lúc đó, thần chết đứng ngay cạnh, nhưng lòng quả cảm đã chiến thắng cái sợ.
Bà cùng đồng đội còn làm một nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm , đó chính là ‘Cọc tiêu sống’. Trong những đêm mưa rừng tầm tã, xe vận tải phải tắt đèn để tránh máy bay AC-130 của địch tầm nhiệt. Bà Hương cùng tiểu đội đã mặc áo trắng, đứng cách nhau 5-10 mét dọc theo mép vực thẳm: “Đứng làm tiêu giữa đêm đen, nghe tiếng máy bay gầm rú trên đầu mà tim không dám đập mạnh. Chúng tôi đứng đó, làm biển chỉ dẫn bằng chính thân thể mình. Chỉ cần một người gục xuống là cả đoàn xe có thể lao xuống vực.”
Đỉnh điểm của sự khốc liệt là trận bom tọa độ năm 1971. Một căn hầm chữ A trú ẩn của tiểu đội bị trúng bom trực diện. Bà bị hất văng và vùi sâu dưới 2 mét đất đá. May mắn thay, một góc chiếc khăn rằn của bà còn lộ trên mặt đất, giúp đồng đội phát hiện và đào lên kịp thời khi bà đã lịm đi vì thiếu oxy.
Giữa chiến trường khốc liệt, bà Hương vẫn lưu giữ những nét nữ tính dịu dàng. Bà kể về những buổi chiều hiếm hoi tiếng súng ngưng bặt, chị em rủ nhau ra suối gội đầu bằng lá sả rừng, chia nhau chiếc gương vỡ để soi:“Tình yêu thời hoa lửa của chúng tôi chỉ là những lá thư viết trên vỏ bao xi măng, là nhành hoa rừng tặng nhau vội vàng lúc đổi ca. Nhiều người anh, người chị đã nằm lại ở tuổi đôi mươi, chưa kịp có một nụ hôn đầu đời. Đó là nỗi đau mà suốt đời bà không bao giờ quên được.”
Kỷ vật quý nhất bà còn giữ đến năm 2026 là chiếc lược làm từ xác máy bay Mỹ do một người lính công binh tặng. Mỗi khi chải tóc, bà lại như thấy hình bóng của những người đồng đội năm xưa đang mỉm cười.
Bà còn tâm sự rằng: “Lịch sử không chỉ là những con số trong sách giáo khoa, lịch sử nằm ở đây, trong lòng đất mẹ. Bà kể cho các cháu nghe không phải để các cháu buồn, mà để các cháu hiểu rằng: Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng cả thanh xuân của một thế hệ. Đừng bao giờ lãng phí nó.”
Sau năm 1975, bà Hương trở về quê hương với đôi vai mang đầy thương tật. Thay vì đòi hỏi chế độ, bà âm thầm lao động, tham gia xây dựng kinh tế tại địa phương và nuôi dạy con cháu thành đạt.Bước sang năm 2026, bà Lê Thị Hương là hội viên tiêu biểu của Hội Cựu TNXP huyện Yên Dũng. Ngôi nhà của bà tại thị trấn Nham Biền trở thành "địa chỉ đỏ" cho các hoạt động giáo dục truyền thống.Hoạt động nghĩa tình, Bà vận động gây quỹ xây dựng "Nhà đồng đội" cho những cựu TNXP cô đơn, có hoàn cảnh khó khăn.
"Khép lại cuốn hồi ký sống động của một thời 'Hoa Lửa', ta thấy bóng dáng bà Hương vẫn ung dung tự tại giữa mùa xanh trên những dấu chân lửa đạn. Ở tuổi 76, bà không chỉ giữ cho riêng mình những kỷ vật của một thời oanh liệt, mà còn trao lại ngọn lửa yêu nước nồng nàn cho thế hệ mai sau qua từng lời kể. Cuộc đời bà như một nhịp cầu nối liền giữa quá khứ đau thương, hào hùng với hiện tại rạng rỡ, phồn vinh. Và khi nắng chiều đổ bóng xuống dải đất Yên Dũng, người ta vẫn thấy ở đó một 'đóa hồng thép' mãi mãi tỏa hương – một thứ hương thơm của lòng quả cảm, của đức hy sinh và của một niềm tin sắt đá vào ánh bình minh vĩnh cửu của tự do. Lịch sử có thể sang trang, nhưng tên tuổi của bà và những người đồng đội sẽ mãi là những nốt nhạc trầm hùng nhất trong bản giao hưởng bất tận của dân tộc Việt Nam."



