CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - MÃI MÃI MỘT THỜI HÀO HÙNG
Những chàng trai, cô gái Hải Dương trên đường ra Điện Biên Hơn bảy mươi năm đã trôi qua kể từ mùa xuân lịch sử 1954. Chiến thắng Điện Biên Phủ – “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” – giờ đây đã lùi xa vào trang sách. Nhưng ở Hải Dương, trong những mái nhà đơn sơ, vẫn còn đó những con người đã đi trọn tuổi thanh xuân cùng chiến dịch ấy. Họ nay tóc bạc, chân chậm, mắt mờ, nhưng ký ức về một thời hoa lửa thì chưa bao giờ phai.

Ở thôn Vĩnh Lại, xã Vĩnh Tuy (Bình Giang), bà Hồ Thị Thảo, năm nay đã 94 tuổi, mỗi khi nhắc đến Điện Biên Phủ, ánh mắt lại ánh lên một thứ ánh sáng rất lạ – thứ ánh sáng của tuổi mười sáu năm nào. Ngày ấy, bà Thảo vừa tròn mười sáu, cái tuổi còn chưa hết bỡ ngỡ với cuộc đời, đã xung phong xin gia nhập Đoàn Thanh niên xung phong Trung ương, được biên chế về Đội 40, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nhiệm vụ của bà và đồng đội là tải đạn, tải gạo, vận chuyển lương thực, vũ khí, dọn đường, lấp hố bom, bảo đảm giao thông cho chiến dịch. Đó là những công việc không tiếng súng, nhưng luôn đối mặt với cái chết. Tháng 3-1954, khi quân ta mở các đợt tiến công mạnh, thì địch cũng điên cuồng ném bom hòng cắt đứt đường tiếp tế. Mai Sơn trở thành một trong những điểm bị đánh phá ác liệt nhất.
Bom rơi, đất đá vùi lấp đường. Trời Tây Bắc mưa mù, dốc cao, đường trơn như đổ mỡ. Trên đầu là tiếng máy bay gầm rú, dưới chân là vực sâu hun hút. Vậy mà những cô gái, chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi vẫn gùi từng bao gạo, từng thùng đạn, men theo đường rừng đưa vào chiến trường.
Bà Thảo nhớ lại, giọng chậm rãi nhưng chắc nịch:
“Thanh niên xung phong chúng tôi làm bất cứ việc gì Đảng giao. Có ngày bom nổ suốt, đường bị cày xới, nhưng vẫn phải đi. Gian khổ, hiểm nguy, nhưng ai cũng chỉ nghĩ một điều: tất cả vì tiền tuyến.”
Ở một góc khác của chiến trường, cũng có một chàng trai Hải Dương rời quê hương với lời thề son sắt. Ngày 22-2-1954, vừa tròn 21 tuổi, Cao Xuân Dớn từ biệt làng quê, gia nhập đội thanh niên xung phong. Ông được biên chế vào đơn vị C295, Đội Thanh niên xung phong 34, làm nhiệm vụ rà phá bom mìn, bảo đảm giao thông tại khu vực cầu Tà Vài, xã Chiềng Hặc (Sơn La) – một mạch máu giao thông đặc biệt quan trọng trên đường vào Điện Biên.
Dưới mưa bom, lửa đạn, ông Dớn cùng đồng đội vẫn bám trụ. Bom nổ chồng bom, đất đá tung lên, núi rừng rung chuyển. Dụng cụ rà phá chỉ là cuốc, xẻng, kìm, thô sơ đến xót xa, trong khi địch thả đủ loại bom, đặc biệt là bom bươm bướm – loại bom nhỏ nhưng cực kỳ nguy hiểm.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ký ức khiến ông Dớn không bao giờ quên là cuối tháng 3-1954. Hôm ấy, ông cùng 5 đồng đội được giao phá bom trên quốc lộ 41 (nay là quốc lộ 6). Trước giờ xuất phát, đơn vị tổ chức ăn liên hoan, rồi làm lễ truy điệu sống. Dưới lá cờ đỏ sao vàng, họ đứng nghiêm trang đọc lời thề trung thành với Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh để giữ cho con đường ra tiền tuyến được thông suốt.
Chỉ 15 phút sau khi bắt tay vào nhiệm vụ, máy bay địch trút bom dữ dội. Hai đồng đội của ông Dớn anh dũng hy sinh ngay tại trận địa. Ông bị thương ở đầu, máu hòa với đất đá, giữa tiếng bom còn vang dội.
Đầu tháng 5-1954, vừa lành vết thương, ông Dớn lại trở về đơn vị, tiếp tục rà phá bom mìn, mở đường. Và rồi, chiến thắng Điện Biên Phủ vang lên như sấm dậy. Sau chiến dịch, ông tiếp tục công tác trong ngành giao thông, xây dựng – vẫn là những con đường, cây cầu, nhưng không còn bom đạn.
Nhắc lại những ngày ấy, ông xúc động:
“Mỗi ngày địch đánh phá nhiều đợt. Bom chưa kịp phá xong, loạt khác lại rơi xuống. Khói lửa mù trời, đất đá vùi lấp cả cầu đường. Nhưng giao thông không thể tắc. Đường mà tắc là tiền tuyến đói đạn, đói gạo…”
Những cô gái, chàng trai Hải Dương năm ấy đã góp sức thầm lặng làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Họ không trực tiếp cầm súng trên đồi A1 hay hầm Đờ Cát, nhưng mỗi gùi gạo, mỗi quả đạn, mỗi con đường được thông đều mang dấu chân, mồ hôi và cả máu của họ.
Giờ đây, họ đã bước sang bên kia dốc cuộc đời. Nhưng mỗi khi nhắc đến Điện Biên Phủ, ký ức năm xưa vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua. Và chính từ những con người bình dị ấy, lịch sử đã được viết nên – bằng lòng yêu nước, bằng tuổi trẻ hiến dâng, bằng một niềm tin son sắt vào ngày chiến thắng.



