Mẹ Việt Nam Anh hùng

Câu chuyện Thời hoa lửa – Mẹ Nguyễn Thị Thứ

Mẹ Nguyễn Thị Thứ, sinh năm 1904 và mất năm 2010, quê tại xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là một trong những biểu tượng tiêu biểu của hình ảnh người mẹ Việt Nam trong thời chiến.

Đà Nẵng23/08/2026Đoàn phường Ninh Kiều (Đoàn phường Ninh Kiều)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Câu chuyện Thời hoa lửa – Mẹ Nguyễn Thị Thứ

      “Có những đóa hoa nở trong lặng im, hương của chúng là sự hy sinh không lời.”  

Khi nhắc đến chiến tranh, chắc hẳn những hình ảnh, suy nghĩ lóe lên ngay lập tức trong tâm thức của mỗi người trong chúng ta đều là về những người chiến sĩ, người lính anh dũng nơi chiến trường tàn khốc. Những người không ngại hy sinh thân mình để một ngày nào đó máu thịt của chính mình có thể đổi lấy hòa bình cho đồng bào dân tộc. Thế nhưng có lẽ ít ai thật sự nhớ đến bóng lưng còng của những người phụ nữ ở lại phía sau nơi hậu phương, với một trái tim quặng thắt, mong mỏi từng ngày chờ đợi những người con của mình trên lưng màu áo lính được quay trở về một cách lành lặng. Đó là một sự hy sinh không thể thốt lên thành tiếng, nhưng lại âm ỉ mà rỉ máu trong tim của những người làm mẹ. Một trong số đó, tôi không thể không nhớ đến mẹ Nguyễn Thị Thứ, người phụ nữ được phong tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam Anh hùng”. Nhưng năm chữ ấy chẳng là gì để có thể thấm đẫm hết nỗi đau chua xót trong lòng người phụ nữ “buộc” phải kiên cường ấy.

       Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mẹ đã có 9 người con trai, 1 người con rể và 2 người cháu ngoại đã anh dũng hy sinh vì độc lập dân tộc. Ở nơi chiến trường, trên người là bộ quân phục, nỗi đau của những người con nằm ở da thịt, máu xương. Là những tháng ngày chiến đấu quên mất thân mình, quên luôn cả tương lai, những khát khao tuổi trẻ mà mỗi người trong chúng ta ai cũng có. Họ đã dũng cảm gạt đi hết những “vướng bận” đáng có của bản thân, để đổi lấy ngày được thấy đất nước độc lập. Nhưng dường như đối với người mẹ, ngày các con ra đi không chắc ngày trở về, mẹ đã mất đi cả phần đời còn lại.

       Nỗi đau của mẹ không nằm ở xác thịt, nó nằm ở sự mong chờ tưởng chừng như vô vọng. Dù trong lòng người có lẽ đã nhận ra rằng đó là lần cuối được nhìn thấy các con, các cháu, nhưng người vẫn không thể nào ngăn mình khỏi nỗi nhớ, nỗi đau đến xé ruột, xé gan. Người ta kể rằng, mẹ Nguyễn Thị Thứ đã từng nói “Để con đi thì mất con, giữ con lại thì mất nước.”. Câu nói ấy đã thể hiện rõ sự bất lực của người. Giữa việc giữ con lại, người cuối cùng lại chọn để con đi, để máu thịt của con hòa làm một với non sông. Đó chắc chắn không phải là một sự lựa chọn dễ dàng, phải làm sao khi một bên là máu thịt ruột rà của mình, là những người con thân thương mà mẹ đã từng ngày chăm bẫm, một bên là một phần non sông, là tiếng gọi của đồng bào chờ ngày được hòa bình độc lập. Có thể mẹ đã từng nói “Các con đi vì nước, mẹ không buồn. Chỉ mong đất nước được yên bình.”, nhưng tôi tin ở sâu trong tâm khảm của người, nỗi đau thật sự không phừng phực như lửa đốt, mà nó lại âm ỉ không nguôi đến trọn cả một đời. Mỗi lần nhìn thấy những người con của mình đi, có lẽ ngoài hành trang ra trận của những người lính ấy, họ đã lấy đi một phần linh hồn của người mẹ. Một sự hy sinh không thể thấy bằng mắt, mà chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim. Để đổi lấy năm chữ “Mẹ Việt Nam Anh hùng”, mẹ Nguyễn Thị Thứ đã phải đánh đổi rất nhiều điều mà không phải ai cũng làm được.

      Những sự hy sinh của mẹ Nguyễn Thị Thứ, là biểu trưng cho những mất mác và lòng dũng cảm của những người mẹ có con phải gánh vác trên vai tương lai của đất nước mà bỏ lại tuổi xuân. Hình tượng mẹ cũng được chọn làm nguyên mẫu cho Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, công trình tưởng niệm lớn nhằm tri ân những bà mẹ đã hiến dâng những người con thân yêu cho Tổ quốc. Ngày hôm nay chúng ta được thấy, được biết, được cảm nhận hòa bình thật sự đẹp như thế nào. Những người chiến sĩ, cả những người mẹ Việt Nam Anh hùng đã dùng cả cuộc đời của họ, hàng ngàn thập kỷ chống giặc, cứu nước, giành giật từng tất đất từ tay kẻ thù. Giờ đây chúng ta được thay họ hy vọng, viết tiếp tương lai tươi sáng cho đất nước Việt Nam thân thương. Cũng chính vì thế ta phải càng thêm biết ơn và tự hào vì những cống hiến của họ, từ đó đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của quê hương mai này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn