CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – MẸ TRẦN THỊ MỘT
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – MẸ TRẦN THỊ MỘT
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – MẸ TRẦN THỊ MỘT
Mẹ Trần Thị Một sinh năm 1922 tại làng Tân Thới Trung, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh. Mẹ có hai đời chồng và sáu người con là chiến sĩ. Người chồng đầu của mẹ bị bệnh chết, để lại người con tên Phạm Minh Châu lúc chưa tròn hai tuổi. Người chồng thứ hai là cán bộ cách mạng từng hoạt động trên các địa bàn của huyện, từng bị địch giam cầm và tra tấn dã man.
Tròn một tháng sau ngày ra tù, đòn roi, sự tra tấn dã man của kẻ thù lại cướp đi người chồng thân yêu của mẹ. Bị giặc đến khảo tra, đốt nhà và đuổi đi khỏi làng, mẹ bồng bế con thơ chạy lên vùng Túc Trưng, nơi đang mộ công nhân đồn điền, rồi phát rẫy, khai ruộng tạo dựng cuộc sống mới.
Mẹ bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng, gia nhập Hội mẹ nuôi quân, luôn đi đầu làm gương để mọi người noi theo. Các con của mẹ cũng lần lượt được mẹ tiễn đưa vào bộ đội. Cuối năm 1960, Phạm Minh Châu và Lê Văn Thanh thoát li gia đình đi kháng chiến, anh vào quân y sĩ khu Sài Gòn - Gia Định, còn em vào đội giao liên du kích huyện Định Quán.
Năm 1967, Lê Thị Tuyết vừa tròn 17 tuổi đã hăng hái gia nhập phong trào xã Phú Túc. Các con lên đường làm cách mạng, mẹ ở nhà đảm nhận việc nuôi quân, căn cứ cách mạng cần gì mẹ đều hết lòng ủng hộ. Năm 1968, mẹ góp 15.000đ và một tạ gạo cho anh em Đại đội 3 huyện mua bò ăn mừng chiến thắng. Năm 1969, mẹ cống hiến cả hai mẫu chuối, nguồn thu duy nhất của gia đình cho cách mạng, để anh em bộ đội thoát khỏi cảnh đói vì thiếu lương thực. Ngày 7/02/1968, mẹ nhận tin anh Phạm Minh Châu hi sinh.
Anh đã anh dũng, không sợ đạn pháo giặc, cứ lao về phía trước để cứu chữa anh em thương binh trong một trận chiến đấu ác liệt. Năm 1969, Lê Văn Thanh đưa đoàn cán bộ về cứ, lúc băng lộ, bị địch phục kích, anh chống trả quyết liệt để giải thoát cho đồng đội và đã anh dũng hi sinh. Tháng 10/1970, chị Lê Thị Tuyết cũng hi sinh trên địa bàn xã Phú Túc. Ngày 01/11/1972, mẹ lại nghe tin Lê Văn Hiếu hi sinh. Anh em bảo với mẹ, lần ấy giặc càn vào nhiều quá, chúng đánh ác liệt kéo dài cả ngày đêm, anh Hiếu và nhiều đồng đội đã hi sinh để bảo vệ làng, bảo vệ căn cứ. Trong vòng 5 năm, bốn lần mẹ nhận tin con mình hi sinh vì sự nghiệp giải phóng Tổ quốc. Bốn lần mẹ lặng thầm trong nỗi xót xa, mẹ khóc, song nước mắt của mẹ chẳng chảy thành dòng, uất ức, căm thù cứ ngập tràn lòng mẹ.
Hai người con còn lại của mẹ lên đường cầm súng trả thù cho những người đã khuất, mẹ chỉ còn lại một mình, ngậm ngùi trong bao nỗi lo âu... Ngày giải phóng đất nước, hai đứa con chiến thắng trở về thì mẹ đã trở thành người điên dại.
Mẹ lâm bệnh nặng. Chính quyền và gia đình đưa mẹ về Biên Hòa điều trị, song bệnh của mẹ chẳng lành. Năm 1984, mẹ qua đời. Mẹ được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì và danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.



