CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – “MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG”
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – “MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG”
“Mẹ biết cũng phải có người hy sinh thì đất nước mới độc lập được, nhưng có những lúc thấy con người ta đi về có chồng con, có cháu có chắt... chồng con mẹ chả về được... mẹ mong....”
Trên dải đất hình chữ S, còn biết bao Mẹ Việt Nam anh hùng trung hậu, tảo tần, lặng thầm với nỗi đau mất chồng, mất con nơi chiến trường để góp phần thêu dệt nên trang sử hào hùng, chói lọi của dân tộc. Mẹ Việt Nam Anh hùng (VNAH) Ngô Thị Mừng. Căn nhà mái ngói khang trang hướng mặt ra phía dòng sông Bến Hải, cách bờ sông một dải lúa chín vàng. Mẹ Mừng năm nay đã 81 tuổi nhưng bước đi vẫn còn nhanh nhẹn. Kể chuyện chồng con, nước mắt mẹ chảy ròng ròng: “Ông quê ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông tập kết ra Vĩnh Giang 1954, làm Công an vũ trang giới tuyến. Những ngày ăn, ở trong dân, ông gặp và quen biết với mệ.
Nhưng bom đạn chiến tranh, chết sống không biết thế nào. Hơn nữa, cả miền Bắc lúc đó, bên cạnh việc kháng chiến, là lo tập trung cho sản xuất để chi viện cho miền Nam ruột thịt. Vì vậy, có mấy ai nghĩ đến chuyện lấy vợ lấy chồng! Mãi tới năm 1958, ông chủ động đặt vấn đề, thuyết phục mệ lập gia đình và xin cấp trên tổ chức cưới.
Năm sau thì mệ có bầu nên được sơ tán ra Hà Tĩnh. Sinh con được 6 tháng thì mệ tình nguyện trở lại quê phục vụ chiến đấu, tiếp tế lương thực, đạn dược, cõng cáng bộ đội bị thương ở bờ Nam sông Bến Hải ra miền Bắc cứu chữa.
Hai vợ chồng ngày đêm đều đi kháng chiến, phục vụ chiến đấu nên thỉnh thoảng mới gặp nhau. Đến năm 1965, ông được cử ra Hà Nội học tập. Đầu năm 1967 thì trở lại Vĩnh Giang rồi lên đường vào Nam chiến đấu. Lúc đó, mệ 30 tuổi, ông 35 tuổi, con trai đầu 7 tuổi, đứa thứ 2 mới 6 tháng tuổi”.
Trước lúc đi, ông cứ mãi dặn mệ: “Cuộc sống không có gì gian khổ bằng chiến tranh. Em một mình nuôi con sẽ còn gian khổ hơn rất nhiều. Anh đi không biết có trở lại không hay. Sau này, nếu anh không trở lại được thì ngày hòa bình em cố gắng tìm ai đó làm bờ vai đỡ đần, chia sẻ khó khăn, buồn vui của cuộc sống, nuôi các con nên người mà đừng nghĩ gì tới anh. Vì em làm vậy coi như đã vì anh nhiều lắm rồi!”. Mẹ kể mà đôi mắt nhòa đi, cứ mãi nhìn ra phía cửa cổng nhà khép hờ trước mặt, như đang trông đợi ai đó trở về.
Hai năm sau, khi đang cõng cáng thương binh đến chữa thương ở một bệnh viện dã chiến trên địa bàn thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, Vĩnh Linh, người nữ dân quân du kích địa phương Ngô Thị Mừng đã ngã khụy khi biết tin chồng mình, anh bộ đội gan dạ Nguyễn Văn Tuân đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh khi bị địch phục kích tại địa bàn xã Sơn Lạng, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Căm thù giặc, người nữ dân quân du kích ấy lập tức gượng đứng lên, tiếp tục làm nhiệm vụ. Ngày hôm sau, chị đến gặp cấp trên xin thôi nhiệm vụ cũ vì muốn trực tiếp cầm súng ra chiến trường chiến đấu. Cấp trên của chị đã phải nhiều lần, nhiều ngày động viên, rằng chị còn chăm nuôi các con nhỏ, đó cũng là điều mong muốn của anh ấy.
Hơn nữa, phục vụ chiến đấu cũng là một cách chiến đấu diệt giặc, không kém phần quan trọng so với việc trực tiếp cầm súng ra chiến trường, chị mới nguôi ngoai nỗi đau mất mát, tạm chấp nhận với lời khuyên bảo, đề nghị của cấp trên, trở lại với công việc thường ngày của mình.
Sau ngày đất nước giải phóng 4 năm, chiến tranh lại nổ ra ở biên giới Tây Nam, con trai đầu của mẹ Mừng, anh Nguyễn Văn Trung có đơn xin tình nguyện lên đường đi chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Đọc đơn con viết, mẹ lặng người nhưng không nói với con điều gì cả, bởi mẹ biết con của mẹ cũng như bố của nó, yêu Tổ quốc hết mình, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh khi Tổ quốc cần đến.
Nỗi đau mất chồng chưa được khỏa lấp, nhất là sau nhiều năm dò hỏi, tìm kiếm những vẫn chưa tìm thấy được hài cốt của chồng, thì người phụ nữ ấy lại đau đớn đón nhận tin dữ như sét đánh ngang tai: Con trai Nguyễn Văn Trung đã chiến đấu anh dũng, hy sinh ở biên giới Tây Nam. Sau 14 năm tìm kiếm, đến cuối năm 1993, gia đình của mẹ mới tìm thấy, cất bốc được hài cốt liệt sĩ Trung.
Cuộc sống bộn bề khó khăn vì hậu quả nặng nề của chiến tranh. Con trai út của mẹ, anh Nguyễn Văn Nam sau lập gia đình một thời gian đã cùng với vợ xin vào làm công nhân cho một đơn vị khai thác đá ở Tân Lâm, Cam Thành (Cam Lộ, Quảng Trị). Mẹ ở lại quê nhà, làm lụng vườn tược, chăm sóc cháu gái nội đầu. Cách đây 10 năm, khi tuổi tác mẹ đã cao, vợ chồng anh Nam quyết định bán nhà ở Tân Lâm, về quê để chăm nuôi, phụng dưỡng mẹ già.
Để bù đắp những đau thương mất mát giúp các Mẹ Việt Nam anh hùng có cuộc sống tốt hơn, ngoài thực hiện đầy đủ các chế độ ưu đãi của Nhà nước, nhiều năm qua các cấp, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội đã chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ bằng những hành động cụ thể, thiết thực. Từ phong trào như xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa, hay xây dựng nhà tình nghĩa, trao sổ tiết kiệm, đăng ký chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã khẳng định truyền thống Uống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Sự cống hiến của các mẹ là niềm tự hào, là biểu hiện cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là tài sản tinh thần vô giá, trường tồn cùng quê hương, dân tộc.Việc tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Mẹ Việt Nam anh hùng thể hiện sự tôn vinh, tri ân của Đảng, Nhà nước đối với những cống hiến, hy sinh của các mẹ vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng trong giọng nói, ánh mắt của những Bà mẹ Việt Nam anh hùng chúng tôi đã gặp vẫn vẹn nguyên ngọn lửa nhiệt tình cách mạng, vẫn trọn vẹn một niềm tin vào lý tưởng mà mình và chồng con đã chọn, cùng bao kỳ vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước. Mỗi người dân Quảng Trị nói riêng, người dân cả nước nói chung đều tỏ lòng biết ơn, sự tri ân sâu sắc đến các Mẹ Việt Nam Anh hùng. Truyền thống đấu tranh giữ nước, giá trị thiêng liêng của đất nước Độc lập - Tự do, được đánh đổi bằng máu xương của các thế hệ cha anh và sự hy sinh to lớn của các Mẹ Việt Nam Anh hùng luôn là bài học quý giá nhắc nhở các thế hệ hôm nay phát huy, trân trọng và tự hào.


