Khác

Câu Chuyện Thời Hoa Lửa - Mẹ Việt Nam Anh Hùng Nguyễn Thị Thứ

Nguyễn Thị Thứ

Thái Nguyên10/06/2026Sạch Thùy Trâm (Khoa Sinh học - Sinh K60)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, có một tượng đài không bao giờ đổ, một ngọn lửa không bao giờ tắt – đó chính là hình ảnh các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Họ không cầm súng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường, nhưng cuộc đời họ là một thiên anh hùng ca bất diệt khắc bằng máu và nước mắt. Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là biểu tượng cao đẹp nhất của sự hy sinh thầm lặng và tình yêu đất nước vô bờ bến. Các mẹ đã nén đau thương, tiễn chồng, con ra trận, nhận về mình nỗi cô đơn, mất mát không gì có thể bù đắp được để có thể đổi lấy độc lập, hoà bình dân tộc.

Có bao giờ bạn tự hỏi: một người mẹ có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát vì Tổ Quốc? Hãy cùng lắng lại và nghe về câu chuyện của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ để thấu hiểu, biết ơn và trân trọng hơn sự hoà bình đổi bằng xương máu này nhé!….

Nguyễn Thị Thứ (sinh năm 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ ghi năm 1902) là một trong những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tiêu biểu, quê tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cuộc đời của mẹ gắn liền với những năm tháng chiến tranh khốc liệt và những mất mát vô cùng to lớn khi nhiều người thân yêu nhất trong gia đình đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vợ chồng mẹ Thứ cùng người con gái đầu vẫn bám trụ tại quê nhà, vừa lao động sản xuất vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng. Trong khu vườn rộng của gia đình, mẹ cùng các con đào đến năm căn hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, bộ đội và du kích. Để che mắt địch, quanh vườn trồng nhiều cây xanh, cỏ và nuôi bò nhằm ngụy trang, còn ban đêm mẹ thường thắp ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu báo rằng khu vực an toàn để cán bộ có thể đi lại hoạt động. Khi tình hình yên tĩnh, mẹ và các con hé cửa hầm cho những người ẩn náu dễ thở, còn khi có động tĩnh thì giả vờ chăn bò hoặc làm việc trong vườn để nhanh chóng ngụy trang lại miệng hầm. Nhờ sự dũng cảm và tận tụy của mẹ cùng gia đình, hàng trăm cán bộ, bộ đội và du kích đã được che chở, chăm sóc và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tuy cuộc sống gia đình vô cùng khó khăn, lận đận và thiếu thốn, nhưng khi đất nước cần, mẹ Thứ vẫn sẵn sàng động viên các con lên đường ra chiến trường. Mẹ có 12 người con, gồm 11 con trai và 1 con gái, trong đó 9 người con trai đã anh dũng hy sinh, cùng với 1 người con rể và 2 cháu ngoại, nâng tổng số liệt sĩ trong gia đình lên 12 người, một sự hy sinh vô cùng to lớn hiếm có. Trong những năm kháng chiến, Nguyễn Thị Thứ (sinh năm 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ ghi năm 1902) là một trong những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tiêu biểu, quê tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cuộc đời của mẹ gắn liền với những năm tháng chiến tranh khốc liệt và những mất mát vô cùng to lớn khi nhiều người thân yêu nhất trong gia đình đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vợ chồng mẹ Thứ cùng người con gái đầu vẫn bám trụ tại quê nhà, vừa lao động sản xuất vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng. Trong khu vườn rộng của gia đình, mẹ cùng các con đào đến năm căn hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, bộ đội và du kích. Để che mắt địch, quanh vườn trồng nhiều cây xanh, cỏ và nuôi bò nhằm ngụy trang, còn ban đêm mẹ thường thắp ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu báo rằng khu vực an toàn để cán bộ có thể đi lại hoạt động. Khi tình hình yên tĩnh, mẹ và các con hé cửa hầm cho những người ẩn náu dễ thở, còn khi có động tĩnh thì giả vờ chăn bò hoặc làm việc trong vườn để nhanh chóng ngụy trang lại miệng hầm. Nhờ sự dũng cảm và tận tụy của mẹ cùng gia đình, hàng trăm cán bộ, bộ đội và du kích đã được che chở, chăm sóc và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tuy cuộc sống gia đình vô cùng khó khăn, lận đận và thiếu thốn, nhưng khi đất nước cần, mẹ Thứ vẫn sẵn sàng động viên các con lên đường ra chiến trường. Mẹ có 12 người con, gồm 11 con trai và 1 con gái, trong đó 9 người con trai đã anh dũng hy sinh, cùng với 1 người con rể và 2 cháu ngoại, nâng tổng số liệt sĩ trong gia đình lên 12 người, một sự hy sinh vô cùng to lớn hiếm có. Trong những năm kháng chiến, Nguyễn Thị Thứ (sinh năm 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ ghi năm 1902) là một trong những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tiêu biểu, quê tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cuộc đời của mẹ gắn liền với những năm tháng chiến tranh khốc liệt và những mất mát vô cùng to lớn khi nhiều người thân yêu nhất trong gia đình đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vợ chồng mẹ Thứ cùng người con gái đầu vẫn bám trụ tại quê nhà, vừa lao động sản xuất vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng. Trong khu vườn rộng của gia đình, mẹ cùng các con đào đến năm căn hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, bộ đội và du kích. Để che mắt địch, quanh vườn trồng nhiều cây xanh, cỏ và nuôi bò nhằm ngụy trang, còn ban đêm mẹ thường thắp ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu báo rằng khu vực an toàn để cán bộ có thể đi lại hoạt động. Khi tình hình yên tĩnh, mẹ và các con hé cửa hầm cho những người ẩn náu dễ thở, còn khi có động tĩnh thì giả vờ chăn bò hoặc làm việc trong vườn để nhanh chóng ngụy trang lại miệng hầm. Nhờ sự dũng cảm và tận tụy của mẹ cùng gia đình, hàng trăm cán bộ, bộ đội và du kích đã được che chở, chăm sóc và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tuy cuộc sống gia đình vô cùng khó khăn, lận đận và thiếu thốn, nhưng khi đất nước cần, mẹ Thứ vẫn sẵn sàng động viên các con lên đường ra chiến trường. Mẹ có 12 người con, gồm 11 con trai và 1 con gái, trong đó 9 người con trai đã anh dũng hy sinh, cùng với 1 người con rể và 2 cháu ngoại, nâng tổng số liệt sĩ trong gia đình lên 12 người, một sự hy sinh vô cùng to lớn hiếm có. Trong những năm kháng chiến, mẹ lần lượt nhận tin báo tử của các con trai mình. Ngày 18-6-1948, người con là Lê Tự Xuyến, một chiến sĩ giao liên, bị thực dân Pháp bắn tại đầu làng. Chỉ nửa tháng sau, ngày 5-10-1948, con trai Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi đang làm nhiệm vụ tải thương, và chỉ mười ngày sau đó, Lê Tự Hàn Em tiếp tục ngã xuống trong một trận chống càn ác liệt. Đến tháng 4-1954, người con trai Lê Tự Lem, khi vừa tròn 20 tuổi, cũng hy sinh trong chiến đấu tại quê nhà. Như vậy chỉ trong vòng sáu năm, mẹ Thứ đã mất năm người con trai, nỗi đau dồn dập nhưng mỗi khi người con khác trưởng thành, mẹ vẫn tiếp tục động viên họ lên đường chiến đấu. Sau đó, những mất mát vẫn chưa dừng lại: tháng 9-1966, con trai Lê Tự Nự hy sinh; đến năm 1972, hai người con là Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh tiếp tục ngã xuống; năm 1974, Lê Tự Thịnh, khi đang là đại đội trưởng bộ đội tại huyện Duy Xuyên, đã hy sinh trong lúc chỉ huy đơn vị tấn công đồn địch. Người con trai cả của mẹ là Lê Tự Chuyển, chiến sĩ biệt động Sài Gòn, đã hy sinh vào lúc 9 giờ sáng ngày 30-4-1975 tại cầu Rạch Chiếc, ngay cửa ngõ tiến vào Sài Gòn, chỉ vài giờ trước khi đất nước hoàn toàn thống nhất sau Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Không chỉ chịu nỗi đau mất con, mẹ Thứ còn mất người con rể là Ngô Tường, chồng của bà Lê Thị Trị (con gái duy nhất của mẹ). Ông tham gia cách mạng từ thời chống Pháp, bị quân Mỹ bắt vào năm 1956 và bị tra tấn cho đến khi hy sinh, sau đó được công nhận là liệt sĩ. Hai cháu ngoại của mẹ là Ngô Thị Điểu và Ngô Thị Cúc cũng lần lượt hy sinh trong kháng chiến; Ngô Thị Điểu bị địch bắt tra khảo và hy sinh vào tháng 8-1970, còn Ngô Thị Cúc hy sinh trong một lần làm nhiệm vụ vào vùng địch hậu năm 1973. Người con gái duy nhất của mẹ, bà Lê Thị Trị, là thương binh và cũng được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng vì có chồng và hai con gái là liệt sĩ.

Về cuối đời, khi bước sang tuổi 80, mẹ Thứ bị mù đôi mắt nhưng vẫn sống giản dị, ban đầu ở quê nhà cùng con gái, sau đó chuyển ra sống với người con út Lê Tự Tân tại Đà Nẵng. Mẹ qua đời vào ngày 10-12-2010, hưởng thọ 106 tuổi. Cuộc đời của mẹ Nguyễn Thị Thứ là biểu tượng cảm động về lòng yêu nước, sự hy sinh và đức kiên cường của người mẹ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh, đồng thời là minh chứng cho những mất mát to lớn mà nhiều gia đình Việt Nam đã phải trải qua để đất nước có được hòa bình và độc lập hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn