Anh hùng Lực lượng vũ trang

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA: NGƯỜI LÍNH GIÀ VÀ KÝ ỨC THÁNG TƯ

Ở tuổi 73, trong ký ức của Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ - nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7 - những ngày tháng Tư lịch sử vẫn hiện lên vẹn nguyên như mới hôm qua. Ông là một trong những người trực tiếp tham gia những trận đánh cuối cùng, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 và chiến thắng lịch sử ngày 30/4.

Hải Phòng26/09/2026Xã An Châu (Đoàn xã An Châu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA: NGƯỜI LÍNH GIÀ VÀ KÝ ỨC THÁNG TƯ

Ở tuổi 73, trong ký ức của Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ - nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7 - những ngày tháng Tư lịch sử vẫn hiện lên vẹn nguyên như mới hôm qua. Ông là một trong những người trực tiếp tham gia những trận đánh cuối cùng, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 và chiến thắng lịch sử ngày 30/4.

Ruột thịt với miền Nam

Nhập ngũ ngày 30/9/1966, sau thời gian huấn luyện tại Cánh đồng Chum (Hạ Lào), ông trở thành chiến sĩ của Sư đoàn 320, rồi được điều động về Sư đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Chiến dịch Hồ Chí Minh luôn là ký ức thiêng liêng và sâu sắc nhất đối với ông.

Nhớ lại những ngày lịch sử ấy, Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ kể, lực lượng tổng tiến công gồm năm cánh quân đồng loạt đánh vào các cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Khi đó, ông là Tham mưu phó, Trưởng ban Tác chiến của cánh quân thứ năm, đảm nhận nhiệm vụ đánh vu hồi từ Gò Công, phối hợp với các cánh quân khác giải phóng Sài Gòn.

Ngày 30/3/1975, khi đang tham gia lớp tập huấn tại Bộ Tham mưu Quân khu 8, ông nhận lệnh khẩn trở về Trung đoàn 88 để chuẩn bị chiến đấu.

Theo kế hoạch, đơn vị hành quân từ Chợ Gạo, Châu Thành (Tiền Giang), vượt sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây qua Tân Trụ, Cần Giuộc (Long An), tiến đến Bình Chánh, đánh chiếm cầu Chữ Y, Tổng nha Cảnh sát và khu kho xăng Nhà Bè. Nhiệm vụ đặt ra là phải tiêu diệt mục tiêu thần tốc, đồng thời hạn chế thấp nhất thương vong cho cả bộ đội và nhân dân.

Trên đường tiến quân, quân ta lần lượt đánh chiếm các cứ điểm của đối phương. Đến 3 giờ sáng ngày 29/4, Tiểu đoàn 3 báo cáo toàn bộ địch tại đồn cầu Ông Thìn đã tháo chạy. Sáng 30/4, Trung đoàn 88 hoàn toàn làm chủ tuyến đường từ cầu Ông Thìn đến phía Nam huyện Bình Chánh, sẵn sàng tiến đánh cầu Chữ Y.

Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Đài Phát thanh Sài Gòn phát đi lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Tổng thống Dương Văn Minh. "Anh em chúng tôi òa khóc. Bao nhiêu năm chiến đấu, bao nhiêu đồng đội ngã xuống, cuối cùng ngày hòa bình cũng đã đến", ông xúc động nhớ lại.

Một trong những ký ức khiến ông không thể nào quên là cuộc vượt sông Vàm Cỏ Tây vào sáng 20/4/1975. Khi ấy, ông trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 1 vượt sông từ Thanh Phú Long sang Nhựt Ninh để đánh Chi khu Tân Trụ - vị trí trọng yếu ở cửa ngõ phía Nam Sài Gòn.

Điều khiến ông lo lắng nhất là đoạn sông rất rộng, trong khi có tới 13 tàu chiến của đối phương neo cách điểm vượt sông chỉ khoảng 2 km. Nếu bị phát hiện, thương vong sẽ rất lớn.

Trong tình thế ấy, sự giúp sức của nhân dân địa phương đã tạo nên điều kỳ diệu. Chỉ trong khoảng 30 phút, cán bộ và nhân dân huy động được 20 ghe máy lớn, mỗi chiếc chở khoảng 40 chiến sĩ cùng đầy đủ trang bị, đồng thời gần 400 người dân, trong đó có cả thiếu niên, tham gia công tác binh vận, góp phần vô hiệu hóa hoạt động của tàu chiến đối phương. Nhờ vậy, hơn 600 cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 1 cùng các đơn vị trực thuộc vượt sông an toàn.

Nhắc đến những ngày áp sát Sài Gòn, ông vẫn nhớ như in hình ảnh một người mẹ ở Cần Giuộc đã nhường cả đàn gà hơn 30 con để bồi dưỡng bộ đội.

"Má định làm thịt mấy con ngỗng nhưng mấy chị bảo ăn ngỗng thì... xui. Thế là má bắt hết đàn gà hơn 30 con cho anh em ăn lấy sức đánh trận", ông kể, ánh mắt ánh lên niềm xúc động.

"Tám" Thổ của má

Mỗi khi nhắc về những bà má Nam Bộ từng cưu mang bộ đội, giọng ông lại nghẹn đi như đang nhắc đến chính mẹ ruột của mình.

Ông kể về má Bảy ở Củ Chi, người nhiều lần tiếp tế lương thực cho bộ đội. Cuối năm 1968, trước khi bị buộc vào sống trong vùng kiểm soát của địch, dù cuộc sống vô cùng thiếu thốn, má vẫn chôn lại một lu lương thực gồm mì, đường và cá muối để dành cho bộ đội khi cần.

Người để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng ông là má Tư Bún ở Tiền Giang. Má nhận ông làm con nuôi và gọi ông là "Tám Thổ", bởi người con trai ruột của má - liệt sĩ Tám Phước - đã hy sinh.

"Cuối tháng 4/1975, đơn vị nhận lệnh lên đường tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhà má nghèo lắm, vậy mà má vẫn bán 40 giạ lúa để gửi cho bộ đội. Má còn dặn, lỡ đứa nào bị thương thì cứ về ở với má...", ông nghẹn ngào.

Suốt những ngày hành quân từ Gò Công về Sài Gòn, đi đến đâu bộ đội cũng được người dân đón chào. Hai bên đường luôn có nước uống, dừa tươi được chặt sẵn, người dân còn lấy xe đạp, xe máy chở những chiến sĩ kiệt sức.

Họ không quen biết nhau, nhưng đối đãi với nhau như người thân ruột thịt. Bởi tất cả đều chung khát vọng hòa bình và đặt trọn niềm tin vào đoàn quân giải phóng. Chính tình cảm ấy đã tiếp thêm sức mạnh để những người lính vững vàng tiến về phía trước.

 

Sinh ra trên đất Bắc nhưng dành trọn tuổi trẻ chiến đấu ở miền Nam, Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ từng vào sinh ra tử nơi chiến trường ác liệt. Thế nhưng, mỗi lần nhắc đến những người mẹ Nam Bộ, ông vẫn không giấu được sự xúc động.

Sau gần nửa thế kỷ, nhiều đồng đội của ông đã mãi mãi nằm lại chiến trường, nhiều người đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Với ông, tài sản quý giá nhất không phải những tấm huân chương hay danh hiệu, mà là ký ức về tình đồng đội, về nghĩa tình của những người mẹ, người chị đã cưu mang bộ đội trong những năm tháng chiến tranh.

Đó cũng chính là sức mạnh vô hình góp phần làm nên thắng lợi của mùa Xuân năm 1975.

Hiện nay, trên cương vị Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam và Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Thành phố Hồ Chí Minh, ông vẫn miệt mài đấu tranh đòi công bằng cho các nạn nhân chất độc da cam, đồng thời ấp ủ mong muốn thành lập Hội Nạn nhân bom, mìn để tiếp tục hỗ trợ những người còn mang di chứng chiến tranh.

Ký ức còn mãi

Trong dòng hồi ức, ông vẫn nhớ rõ những ngày đơn vị tiến đến cửa ngõ Sài Gòn.

Những ngày cuối tháng 4/1975, các cánh quân đồng loạt tiến công với tinh thần "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng". Có nơi quân địch tan rã rất nhanh, có nơi chống trả quyết liệt, nhưng cũng có những cứ điểm mà cả hai phía đều không còn muốn nổ súng.

Ông kể về một cứ điểm ở Cần Giuộc (Long An): "Chúng tôi bao vây nhưng hai bên vẫn im lặng. Nghĩ trận đánh sẽ rất ác liệt nên tôi cho anh em nấu cơm. Vừa nhóm lửa thì trong cứ điểm có tiếng loa vọng ra nhắc nên tránh để khói bốc cao, nếu không sẽ thành mục tiêu của phi pháo. Sau này tôi mới hiểu, những người lính bên trong cũng không muốn chiến đấu nữa. Họ chỉ mong sớm được buông súng để trở về với gia đình."

Bên cạnh những ký ức xúc động về nghĩa tình quân dân, ông cũng bật cười khi nhớ đến những tình huống dở khóc dở cười trong ngày giải phóng.

Ngày 30/4, khi đơn vị tiến vào khu vực Nhà Bè, phần lớn binh lính đối phương đã đầu hàng. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn, các tổ công tác vẫn phải kiểm tra từng ngôi nhà.

Tại một căn nhà, ông phát hiện bốn cô gái đang run rẩy trốn dưới gầm giường. Phải mất khá lâu trấn an, họ mới dám bước ra và thú nhận rằng từng nghe tuyên truyền sẽ bị "lính giải phóng rút móng tay" nếu bị bắt.

Thế nhưng chỉ ít phút sau, sự lo lắng ấy hoàn toàn tan biến. Chính những cô gái ấy đã nấu cơm cho đơn vị ông trước khi các chiến sĩ tiếp tục lên đường.

Điều khiến ông nhớ nhất là phản ứng của một số cụ già trong khu vực. Sau phút dè dặt ban đầu, các cụ kéo tay áo ông lên xem rồi cười lớn: "Lính giải phóng tụi bây cũng trắng trẻo chứ có lông lá gì đâu!"

Nhắc lại câu chuyện ấy, vị tướng già nheo mắt cười. Sau bao năm tháng, ký ức về chiến tranh trong ông không chỉ có tiếng súng và khói lửa, mà còn đọng lại bằng tình người, sự bao dung và khát vọng hòa bình của biết bao người dân Việt Nam trong những ngày tháng Tư lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn