Câu chuyên thời hoa lửa - Người lính trở về từ những trang nhật ký
Câu chuyên thời hoa lửa - Người lính trở về từ những trang nhật ký
Những kỷ vật trở về từ chiến trường dù dưới bất cứ hình thức nào cũng đều có ý nghĩa lớn lao, như nối liền sợi dây ký ức về người ra đi, người ở lại. Những kỷ vật cũng trở thành cảm hứng cho những tác phẩm đặc biệt về chiến tranh. Ở đó không chỉ có mất mát, đau thương mà có cả tình yêu chân thành, giản dị của người lính.

Mảnh ghép hoàn thiện
Kỷ vật của liệt sĩ Trần Minh Tiến ở chiến trường được giữ gìn và công bố là một trong những câu chuyện kỳ lạ và cảm động. Liệt sĩ Trần Minh Tiến, sinh năm 1945, ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Trước khi vượt dãy Trường Sơn “đi B”, chiến sĩ trẻ để lại cho bạn gái là Vũ Lưu Liên những lá thư và cuốn nhật ký. Những trang giấy gói trọn tâm tình của anh bộ đội Trần Minh Tiến viết trong những ngày tháng rèn luyện gian khổ.
Nhật ký của liệt sĩ Trần Minh Tiến viết trong khoảng thời gian từ tháng 11/1966 đến tháng 3/1968 được nhà văn Đặng Vương Hưng (người sáng lập tổ chức Trái tim người lính Việt Nam) sưu tầm, tuyển chọn và tập hợp trong cuốn sách Trở về trong giấc mơ xuất bản lần đầu năm 2005.
Ảnh chụp cuốn sổ lịch của liệt sĩ Trần Minh Tiến.
Năm 2021, kỹ sư Lâm Hồng Tiên, người chuyên nghiên cứu các hồ sơ chiến tranh và thông tin về liệt sĩ phát hiện thêm một cuốn sổ lịch của liệt sĩ Trần Minh Tiến. Bản chụp được lưu tại Đại học công nghệ Texas (Mỹ). Cuốn sổ lịch đề năm 1968 gồm những ghi chép cá nhân của liệt sĩ Trần Minh Tiến, thuộc Sư đoàn 308. Sổ do lính Mỹ thu giữ tại Quảng Trị năm 1968. Thời gian ghi chép từ 8/1/1968 đến 28/5/1968, gần như tiếp nối cuốn nhật ký mà liệt sĩ Tiến đã trao lại cho bạn gái trước khi vào chiến trường B.
“Ai cũng biết chảy máu là đau, anh cũng sợ chảy máu lắm! Nhưng nếu ai cũng sợ chảy máu, thì lấy ai dám đưa tay ra bịt chặt dòng máu mà kẻ thù đang gây ra cho đồng bào ta không bị chảy nữa? Em hãy tin rằng, khi anh đi thì ngày khải hoàn sẽ không còn xa nữa. Câu nói này dựa vào thực tế chiến lược và sự lãnh đạo cách mạng của Đảng như tiên đoán”. trích nhật ký liệt sĩ Trần Minh Tiến, ngày 14/3/1968.
Trang đầu cuốn sổ lịch, phần tên có ghi chữ Minh Tiến, lồng phía trong là chữ Lưu. Các thông tin khác ghi lần lượt ngày sinh, nơi làm việc. Trang phía trong có ghi dòng chữ “Nhớ lại những quá khứ”, kèm chữ ký của hai người là Minh Tiến 20/3/1968, và Lưu Liên 7/1/1968. Theo thông tin mà anh Lâm Hồng Tiên tra soát thêm từ hồ sơ của Đại học công nghệ Texas, cuốn sổ do lính Mỹ thu giữ ngày 31/5/1968 từ các thi thể bộ đội Việt Nam tại khu vực nam QL9, Hướng Hóa- Quảng Trị, sau trận chiến dữ dội từ 10h đến gần 16h.
Trước đó, anh Tiên đã tra cứu và biết được thông tin về liệt sĩ Minh Tiến, bà Lưu Liên cùng tác phẩm Trở về trong giấc mơ. “Đọc thấy tên chủ nhân cuốn sổ, tôi bỗng thấy sởn gai ốc và lạnh người vì quá khớp thông tin. Ngày 2/6/2021 tôi đăng bài về kỷ vật của liệt sĩ Tiến. Tình cờ vào nhóm thông tin về cựu chiến binh, tôi thấy có bài viết về cuốn Trở về trong giấc mơ. Bài viết chị Liên đăng cách đó ít ngày, vào đúng ngày giỗ theo dương lịch của liệt sĩ Tiến”, anh Tiên nói.
Khi anh đăng thông tin lên Facebook cá nhân, bà Lưu Liên đã xác nhận cuốn sổ lịch của liệt sĩ Trần Minh Tiến, do bà gửi tặng khi chia tay người yêu. “Liệt sĩ linh thiêng đã về với tôi, tôi thực sự xúc động…”, bà Liên phản hồi bài viết của anh Lâm Hồng Tiên.
Năm 1963, Trần Minh Tiến (17 tuổi) được tuyển vào bộ đội. Sau 3 tháng huấn luyện tân binh, anh được giao nhiệm vụ làm cầu thủ đá trung vệ cho đội bóng của Sư đoàn 308. Đại tá Kiều Hữu Thuần (tức Kiều Thuần, nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Hà Tây cũ) nhớ lại: Năm 1965, khi Đội bóng Sư đoàn 308 giải thể vì tình hình nhiệm vụ mới, Trung đội trưởng Kiều Thuần được lệnh tiếp nhận một số chiến sĩ về đơn vị, trong đó có Trần Minh Tiến. “Đó là một thanh niên người tầm thước, da ngăm đen, thân hình chắc nịch, tính sôi nổi, hay hát và hay cười. Cậu ấy có chiếc răng khểnh rất duyên, tự nhiên và thoải mái trong giao tiếp, nên ai cũng mến”, ông Thuần kể. Trần Minh Tiến gác lại ước mơ làm cầu thủ chuyên nghiệp để đi ra chiến trường.
Hàng năm, gia đình bà Lưu Liên đều vào nghĩa trang Đường 9 (Quảng Trị) để thắp hương tưởng nhớ liệt sĩ Trần Minh Tiến. Bất cứ công việc trọng đại hay dự định gì của gia đình, các con bà Liên cũng dâng hương “xin ý kiến” liệt sĩ Trần Minh Tiến, như một người thân trong gia đình.
Bà Lưu Liên và ông Steve Maxner - đại diện Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ tại Đại học công nghệ Texas (nơi lưu bản chụp cuốn sổ của liệt sĩ Tiến).
Cái kết đẹp cho những lá thư chiến trường
Cuốn sách Trở về trong giấc mơ tái bản năm 2024. Những người biên soạn cung cấp thêm cho độc giả nội dung đầy đủ 109 bức thư của liệt sĩ Trần Minh Tiến gửi cho người yêu Lưu Liên, qua hình thức quét mã QR.
“Vượt lên trên những cảm xúc riêng tư của tình yêu đôi lứa, cuốn sách khơi nguồn cảm hứng giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về cuộc kháng chiến trường kỳ, nhiều hi sinh, mất mát nhưng rất đỗi tự hào của dân tộc cũng như hoài bão, khát vọng cống hiến cho đất nước của thế hệ cha anh, để vững vàng bước tiếp trên chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay”, đại diện NXB Chính trị quốc gia Sự thật nói.
Anh Trần Minh Tiến ghi chép rất nhiều trong khoảng thời gian mới nhập ngũ và nhất là giai đoạn hành quân đi B. “Thời gian ghi nhật ký chỉ gói gọn trong khoảng hơn một năm và những nhân chứng, sự kiện trong đó đã diễn ra cách đây hơn nửa thế kỷ. Tuy nhiên, đó là những trang ghi chép hết sức chân thực và vô cùng quý báu của Trần Minh Tiến”, nhà văn Đặng Vương Hưng nói.
Qua những trang viết của chàng lính trẻ Trần Minh Tiến, bạn đọc sẽ hiểu được những đơn vị bộ đội chủ lực miền Bắc đã tập luyện gian nan, vất vả như thế nào để chuẩn bị cho cuộc hành quân, vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu. Từng dòng nhật ký của liệt sĩ Trần Minh Tiến là minh chứng cho những ngày gian khó: “Đánh xong trận phục kích giả tưởng, người mình trở nên tàn tệ quá. Áo quần lem luốc bùn lầy, súng đầy bụi đất, giày thì một chiếc còn, một chiếc mất, mặt mũi hốc hác tái ngắt, đôi mắt cứng đờ, râu ria tua tủa trông thật gớm”…
Không chỉ ghi chép về chuyện tập luyện gian nan vất vả, mà Trần Minh Tiến luôn coi những trang sổ tay ghi chép của mình là nơi để bộc bạch tâm tư, tình cảm sâu kín nhất trong lòng. Cuốn sổ nhỏ đã trở thành một người bạn tâm tình, chia sẻ với anh những nỗi niềm, tâm tư, giúp anh thêm nghị lực, sức mạnh và niềm tin để vượt lên khó khăn.
Nhà văn Đặng Vương Hưng tâm sự, có một thời, người ta tưởng rằng tâm tư anh bộ đội trong những năm tháng kháng chiến lúc nào cũng hừng hực khí thế chiến đấu, lúc nào cũng lạc quan phơi phới, lúc nào cũng háo hức ra trận, chỉ chờ một câu hô “Xung phong!” là tất cả đều xông lên giết giặc lập công... Nhưng ra trận, nghĩa là vào chỗ sinh tử, không ai là không suy nghĩ. Chỉ khi ngồi trước cây bút, trang giấy để viết thư cho người thân thiết, hoặc ghi nhật ký... người lính mới có điều kiện nói thật những buồn vui của mình.
Trong nhật ký ngày 23/1/1967 của anh Trần Minh Tiến có đoạn: “Nhìn bề ngoài ai cũng tưởng mình vô tư lắm vì lúc nào cũng hát cũng cười. Khi cười, mình cũng thấy đời thêm nhiều nhựa sống. Nhưng mỗi tiếng cười đều chứa đựng một điều suy nghĩ sâu xa, cười để cho ta đỡ chán đời, cười để đỡ suy nghĩ miên man, cười để chế giễu một kẻ hèn hạ trong cuộc sống…”. Chàng trai ngoài đôi mươi cũng tự nhủ không bao giờ để mình rơi vào sự bi quan, chán nản.
Giữa tháng 3/1968, đơn vị của anh chính thức nhận lệnh đi B. Đây là thời điểm ác liệt của chiến trường miền Nam. Ngày 31/5/1968, anh Trần Minh Tiến hi sinh tại Quảng Trị. Trận đánh ác liệt khiến gần 1/4 chiến sĩ của đơn vị anh không thể trở về. Chủ nhân cuốn nhật ký chiến trường đã đi xa, nhưng cuốn sách Trở về trong giấc mơ phần nào gói ghém những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ sâu sắc đầy yêu thương và trách nhiệm của liệt sĩ Trần Minh Tiến. Đó là trách nhiệm với người yêu, với cuộc đời, với Tổ quốc của người lính trẻ.
Hàng chục nghìn trang nhật ký từ chiến trường trải qua hành trình ly kỳ, nhiều tư liệu quý đã trở về với gia đình và quê hương. Trong các tác phẩm thuộc tủ sách Mãi mãi tuổi hai mươi, bên cạnh những cuốn nhật ký, ghi chép chiến trường của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Hoàng Thượng Lân, nay có thêm một cuốn nhật ký lay động của liệt sĩ Trần Minh Tiến.
Hành trình của những người đọc tài liệu di sản chiến tranh, kết nối các thân nhân chắc chắn chưa dừng lại. Họ tiếp tục cần mẫn nối dài hành trình nâng niu những tư liệu, kỷ vật vô giá từ chiến trường.
Câu chuyện thời hoa lửa – Tô Vĩnh Diện
Giữa đại ngàn Tây Bắc mịt mù sương phủ, nơi những dãy núi dựng đứng như bức tường thành của đất trời, mùa đông năm 1953 – 1954 hiện lên như một bản hùng ca bằng đá, bằng gió, bằng hơi thở của hàng vạn con người kéo pháo vào lòng thung lũng Điện Biên. Và giữa đoàn quân ấy, bước chân chắc nịch, dáng người rắn rỏi, chính là Tô Vĩnh Diện – người chiến sĩ mà ngày sau lịch sử gọi bằng hai chữ: Anh Hùng.
Tô Vĩnh Diện sinh ra ở Ngũ Hành Sơn – vùng đất của cát trắng, núi xanh và những con người cương trực. Từ thuở thiếu niên, anh đã nhìn thấy cảnh quê hương chìm trong bóng quân thù. Những buổi chiều đứng trên triền núi, nghe tiếng đại bác vọng lại từ thành phố, chàng trai trẻ hiểu rằng rồi sẽ có ngày mình khoác súng ra đi.
Ngày anh lên đường nhập ngũ, ngọn núi quê nhà như cúi xuống, trao cho anh cả sức mạnh của đá và gió. Anh mang theo lời thề của dân làng:
“Có anh đi là có cả lòng dân đi cùng."
1. Trận chiến của ý chí
Đông năm ấy, chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào giai đoạn khốc liệt. Để đánh được tập đoàn cứ điểm kiên cố của thực dân Pháp, Trung ương Đảng hạ quyết tâm: phải kéo pháo vào trận địa bằng sức người.
Con đường kéo pháo là con đường mà trời đất cũng phải nghiêng mình: dốc cao như đứng, bùn ngập đến đầu gối, đá núi sắc hơn lưỡi dao, mưa rét buốt như kim châm. Mỗi khẩu pháo nặng hàng tấn, nhưng hàng trăm chiến sĩ vẫn kéo, vẫn đỡ, vẫn gồng lên bằng cả sinh mạng.
Tô Vĩnh Diện được giao nhiệm vụ phó khẩu đội trưởng pháo 105mm. Anh không nói nhiều. Anh chỉ lặng lẽ đặt vai vào dây kéo, đôi bàn tay siết chặt như muốn truyền sức mạnh vào sợi thừng.
Những đêm sương rơi trắng rừng, anh đi giữa đoàn quân, mắt hướng về phía trước, giọng trầm ấm khích lệ đồng đội:
“Pháo còn, ta còn. Pháo đến, trận thắng đến.”
2. Khoảnh khắc định mệnh
Ngày 1 tháng 2 năm 1954, đoàn quân đang kéo pháo xuống thì bất ngờ bánh pháo trượt khỏi con dốc hiểm trở. Mặt đường ướt, đất nhão, dây kéo căng đến mức tưởng chừng có thể đứt trong nháy mắt. Pháo chồm lên, lao xuống như con thú sắt khổng lồ sắp vượt khỏi mọi kiểm soát.
Tiếng hô thất thanh vang lên giữa núi rừng:
“Pháo lao rồi! Cẩn thận!”
Nếu khẩu pháo rơi, không chỉ pháo hỏng mà cả bao chiến sĩ bị cuốn theo xuống vực.
Chỉ còn một khoảnh khắc – khoảnh khắc mà số phận của trận đánh như treo trên sợi tóc.
Trong tích tắc ấy, Tô Vĩnh Diện lao mình tới, không do dự, không sợ hãi. Anh dùng cả thân người nặng trĩu mồ hôi và đất đá để chèn vào bánh pháo, ghì nó lại bằng sức mạnh cuối cùng của một con người dám hiến mình cho Tổ quốc.
Tiếng va chạm nặng nề vang lên.
Tiếng dây kéo căng bật lên như tiếng kêu của trời đất.
Khẩu pháo dừng lại – đứng yên, an toàn.
Còn Tô Vĩnh Diện… nằm bất động dưới bánh pháo, như một tấm lá chắn bằng thịt da cho cả đoàn quân.
Đồng đội lao đến, bàng hoàng gọi tên anh. Nhưng người chiến sĩ từ tốn mỉm cười, môi run run:
“Pháo còn… đồng chí đánh tiếp…”
Rồi anh nhắm mắt, trút hơi thở cuối cùng trong tiếng gió rừng thét gào, như thiên nhiên cũng tiễn biệt một con người vĩ đại.
3. Tên tuổi hóa thành tượng đài
Đêm ấy, rừng Tây Bắc bừng sáng bởi những ngọn đuốc thắp bên linh cữu anh. Không ai khóc thành tiếng, nhưng trong ánh mắt mỗi chiến sĩ đều có ngọn lửa vĩnh hằng – ngọn lửa anh để lại.
Và rồi, pháo lại tiếp tục tiến vào trận địa. Mỗi tiếng nổ của pháo Điện Biên sau này đều như nhắc lại tên anh – người đã “lấy thân chèn pháo”, biến cái chết của mình thành cánh cửa mở ra chiến thắng.
Trên đỉnh những ngọn núi nơi đoàn quân đi qua, người ta kể rằng đã từng lạiy vang vọng câu nói của Tô Vĩnh Diện:
“Pháo còn là ta còn. Tổ quốc gọi thì không ai được lùi bước.”
Năm tháng trôi đi.
Đồi núi phủ xanh trở lại.
Nhưng tên anh vẫn đứng đó – vững như bức tường thành của lịch sử:
Tô Vĩnh Diện – người chiến sĩ lấy thân mình cứu pháo, người sống mãi trong bản anh hùng ca của Điện Biên Phủ.
Anh là con người của thời hoa lửa,
là tiếng gầm của ý chí Việt Nam,
là dấu son bất tử trên trang sử dân tộc.
Câu chuyện thời hoa lửa – Tạ Quốc Luật
Trên những cánh đồng lúa mặn mòi gió biển của Thái Bình, tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, một cậu bé chào đời năm 1925 mang tên Tạ Quốc Luật. Từ nhỏ, đồng quê đã rèn giũa trong anh lòng kiên cường, như muối biển thấm sâu vào da thịt, như gió ven đồng thổi mãnh liệt vào dáng người.
Khi giặc Pháp trở lại, Tạ Quốc Luật không chần chừ: anh gia nhập giải phóng quân, trở thành chiến sĩ – một mảnh ghép trong lực lượng cách mạng non trẻ nhưng đầy khát vọng. Trải qua hơn 100 trận đánh, tham gia hơn 20 chiến dịch, mỗi lần giáp mặt kẻ thù, trong anh luôn cháy lên quyết tâm giành độc lập cho Tổ quốc.
1. Người lính kiên cường từ thuở làm du kích
Không lâu sau khi bước vào quân ngũ, Luật trở thành Trung đội trưởng, thuộc Tiểu đoàn 151. Trong những năm 1947 – 1948, anh cùng đồng đội chiến đấu kiên cường qua các trận như Phủ Thông, Phố Ràng, Làng Phát, Róm…
Sự gan dạ, khả năng lãnh đạo và lòng dũng cảm của Luật ngày càng được khẳng định. Anh không chỉ là người lính xung kích mà còn là người chỉ huy đáng tin cậy, dẫn dắt đồng đội vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất.
2. Trên con đường đến Điện Biên Phủ
Khi đoàn quân cách mạng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ – trận quyết chiến lớn định mệnh với thực dân Pháp – Tạ Quốc Luật được bổ nhiệm Đại đội trưởng Đại đội 360, thuộc Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Trước chiến dịch, Luật viết quyết tâm thư gửi cấp trên: nếu không hoàn thành nhiệm vụ, anh sẽ không trở về. Đó không phải là lời nói cho vui, mà là lời tự thề của một chiến sĩ sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.
3. Khoảnh khắc lịch sử: Bắt sống De Castries
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, khi trận Điện Biên Phủ bước vào giờ quyết định, Luật dẫn đầu tổ xung kích gồm 5 chiến sĩ – lao vào hầm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Pháp.
Trong màn khói bom, giữa nguy hiểm khôn lường, Luật và đồng đội đột nhập, tấn công mạnh mẽ. Cuối cùng, họ bắt sống tướng De Castries (De Cát‑ri), chỉ huy quân Pháp tại Điện Biên.
Hành động này không chỉ mang ý nghĩa chiến đấu – mà còn là biểu tượng của sự sụp đổ tinh thần địch, là bước ngoặt khẳng định quyết tâm và sức mạnh của nhân dân Việt Nam.
4. Lá cờ chiến thắng và tinh thần bất khuất
Ngày 13 tháng 5 năm 1954, trong lễ mừng chiến thắng tại Mường Phăng, Tạ Quốc Luật được chọn kéo lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” lên cột cờ trước toàn quân. Khoảnh khắc ấy như khắc họa trọn vẹn tinh thần cách mạng – một người lính bình dị nhưng mang trong mình khát vọng vĩ đại.
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Luật tiếp tục góp sức trong nhiều công việc quan trọng, đảm nhận nhiệm vụ chỉ huy đảm bảo thông tin trong các chiến dịch tiếp theo.
5. Di sản và vinh danh
Vì những cống hiến to lớn, Tạ Quốc Luật được Nhà nước trao tặng các phần thưởng cao quý: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nhiều huân chương và danh hiệu.
Mới đây, tỉnh Điện Biên đã gắn tên đường Tạ Quốc Luật ngay sát điểm di tích hầm De Castries để nhớ về công lao của người anh hùng quê lúa Thái Bình.
6. Tinh thần bất tử trong thời hoa lửa
Tạ Quốc Luật là hình ảnh của người chiến sĩ dũng cảm, kiên định, dám xông pha nơi hiểm nguy vì lý tưởng tự do.
Hành động bắt sống tướng De Castries không phải chỉ là chiến thuật – mà là biểu tượng lòng tự hào dân tộc, của việc “người Việt Nam đứng lên giành thắng lợi”.
Tinh thần của anh – kiên cường, quyết liệt, bất khuất – đã trở thành một phần trong bản anh hùng ca Điện Biên, tiếp tục truyền cảm hứng cho thế hệ sau.
Câu chuyện: Người con của làng Kênh Son
Ngày xưa, ở làng Kênh Son thuộc xã Minh Hưng, tỉnh Thái Bình, có một cậu bé tên là Nguyễn Khang. Làng quê ấy rất nghèo, nhưng lại có truyền thống cách mạng từ rất sớm. Ngay từ những năm 1930, khi đất nước còn chìm trong bóng tối thực dân, bà con nơi đây đã lập ra chi bộ Đảng để cùng nhau đấu tranh giành tự do.
Từ nhỏ, Nguyễn Khang đã lớn lên trong bầu không khí sôi nổi ấy. Mỗi tối, cậu nghe các bác, các chú trong làng thì thầm chuyện cách mạng dưới ánh đèn dầu. Những tờ truyền đơn, những bài báo bí mật được chuyền tay nhau đã làm trong cậu nhen nhóm ước mơ:
“Sau này lớn lên, mình sẽ đứng vào hàng ngũ của Đảng, góp sức cứu nước.”
1. Người thanh niên đi theo cách mạng
Khi trưởng thành, Nguyễn Khang không ngần ngại đi theo con đường của Đảng. Anh làm nhiệm vụ vận động bà con, xây dựng cơ sở cách mạng, giúp người dân hiểu về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết. Công việc rất nguy hiểm, bởi mật thám Pháp luôn rình rập, nhưng anh chưa bao giờ lùi bước.
Bạn bè nhớ mãi hình ảnh Nguyễn Khang – gương mặt sáng, dáng người nhanh nhẹn, lúc nào cũng sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ, bất kể đêm tối hay mưa gió.
2. Đại hội Đảng II – dấu ấn vang dội
Năm 1951, cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn khó khăn. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II được tổ chức tại Việt Bắc. Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng, quy tụ những người lãnh đạo ưu tú nhất của cách mạng Việt Nam.
Trong bức ảnh lịch sử chụp tại Đại hội, có rất nhiều tên tuổi lớn của đất nước:
Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Trường Chinh,
Hoàng Quốc Việt,
Phạm Văn Đồng,
Tố Hữu…
Và giữa những người lãnh đạo ấy, Nguyễn Khang – chàng trai xuất thân từ làng Kênh Son nhỏ bé – đứng hiên ngang, tự tin. Anh được tín nhiệm trao nhiệm vụ quan trọng trong Đảng.
Đó là niềm tự hào lớn không chỉ của gia đình anh, mà của cả quê hương Minh Hưng anh hùng.
3. Cống hiến trọn đời cho Tổ quốc
Sau Đại hội, đồng chí Nguyễn Khang tiếp tục công tác ở Trung ương Đảng. Anh đi nhiều nơi, chỉ đạo phong trào kháng chiến, giúp nhân dân xây dựng lực lượng, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi.
Dù ở cương vị nào, Nguyễn Khang cũng là người cán bộ mẫu mực, sống giản dị, gần gũi và hết lòng vì dân. Đồng đội luôn nói về anh với sự trân trọng:
“Đồng chí Khang là người kiên định, thẳng thắn và hết lòng với cách mạng.”
4. Niềm tự hào của Minh Hưng – Bình Thanh hôm nay
Ngày nay, khi chúng ta về xã Bình Thanh, nơi có những con đường mới và những mái trường khang trang, người dân vẫn nhắc đến Nguyễn Khang như một tấm gương sáng.
Anh là minh chứng rằng:
Từ những làng quê bình dị cũng có thể bước ra những con người làm rạng danh đất nước.
Thông điệp dành cho học sinh
Câu chuyện của đồng chí Nguyễn Khang dạy chúng ta rằng:
Dù sinh ra ở đâu, mỗi người đều có thể đóng góp cho Tổ quốc.
Muốn trở thành người có ích, hãy nuôi dưỡng ước mơ và kiên trì theo đuổi.
Lòng yêu nước bắt đầu từ những việc nhỏ: chăm học, rèn luyện, sống tốt mỗi ngày.


